
Lm. Giuse Phạm Đình Ngọc SJ
WHĐ (09/7/2026) – Kính thưa quý độc giả, nếu quý độc giả đã đọc Con sóc trên tàu dừa – Cuộc đời Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, hẳn quý vị còn nhớ câu chuyện ấy đã khép lại trước ngày Thánh lễ Tuyên phong Chân phước. Khi được tham dự chính Đại lễ ấy (02/7/2026), tôi thấy lòng mình chưa thể dừng lại. Vì thế, tôi xin viết thêm một chương nữa: Chương 11 – Đại Lễ Tắc Sậy, như một lời chia sẻ chân thành và biết ơn.
Khi Tắc Sậy không còn nhỏ nữa
Xe vừa dừng hẳn, tôi nghe trong lồng ngực mình có cái gì cũng dừng theo.
Tôi đưa tay lên ngực xem tim mình còn đập không! May quá, vẫn còn… lại còn đập mạnh hơn. Nhưng có một thứ khác đứng lại, tôi tạm gọi là ký ức. Có lẽ là những năm tháng dài tôi đã nghe tên Cha Diệp trong lời kể của người này người nọ, trong tiếng thở dài của mấy bà cụ đi hành hương, trong danh sách tạ ơn dài vô tận khắc treo trên tường, trong câu nói nửa đùa nửa thiệt của người miền Tây: “Có chuyện gì thì chạy tới Cha Diệp!”
Bữa nay, người ta không chạy tới Cha Diệp nữa. Thực ra, muốn chạy cũng không được. Trước Đại lễ một hai ngày, từng dòng người đã chậm rãi tiến về Tắc Sậy. Càng gần giờ lễ, mèng đét ơi, người ta đi thành đoàn, thành lớp, thành một con nước lớn đổ về khúc sông thiêng liêng.
Tắc Sậy hôm ấy không còn là một địa danh nhỏ nằm khiêm tốn giữa miền đất Bạc Liêu, Cà Mau. Nó như một trái tim lớn, vừa bình dân vừa linh thánh, đang đập thổn thức giữa đồng bằng Sông Cửu Long.
Tôi cố tình đi ra một góc thật xa, không phải để tìm con sóc, nhưng để thấy cho rõ hơn. Vừa nhìn đoàn người, vừa để ý màn hình thật lớn ở phía trước. Ôi chao, nào là đường vào khu hành hương người đông nghẹt. Cờ bay phất phới, cờ Giáo hội tung bay. Biểu ngữ cái nào cũng đẹp. Tiếng loa vang lên như rủ lòng người hướng về với Cha Diệp. Tiếng người gọi nhau. Tiếng trẻ con khóc. Tiếng ban tổ chức, có cả tiếng cụ già cười nói. Mấy cô chú trật tự viên nhắc trong niềm vui hiếu khách:
– Bà con đi từ từ thôi heng! Đừng chen lấn. Còn chỗ mà…!
Nghe câu “còn chỗ mà”, tôi bật cười trong bụng. Người miền Tây thiệt tình, thiệt dạ. Chỗ thì coi bộ không còn bao nhiêu, nhưng lòng thì còn rộng. Mà khi lòng bao dung thì người ta vẫn nói được câu đó, như nói với bà con mình trong nhà.
Đang miên man thì một chị chừng ngoài năm mươi tuổi, đầu đội nón lá, tay ôm bó hoa huệ trắng, quay sang hỏi tôi:
– Ông ơi, vô trong còn xa hông?
Tôi nói:
– Chắc cũng còn chút chút.
Chị cười:
– Xa mấy cũng đi. Hôm nay mà hông đi, chắc mai mốt tiếc dữ lắm!
Nói xong chị quay đi, len lỏi vào dòng người. Dòng người thì chưa đúng lắm, phải nói là biển người. Mà giữa biển thì dáng chị nhỏ xíu à, nhưng bó hoa trắng trên tay thì ai cũng thấy. Tôi nhìn theo, tự nhiên nhớ má tôi ngày xưa đi chợ nổi. Cũng cái dáng đó. Cũng tay xách nách mang. Cũng đi giữa một đám đông mà lòng thì hướng về một điều rất riêng.
Ở đây, mỗi người có một điều rất riêng để mang tới Cha Diệp. Có người mang bó hoa. Có người mang bệnh. Người mang lời tạ ơn. Có người mang một đứa con đã lâu không chịu đi lễ. Người mang tấm hình người thân đã khuất. Có người không mang gì hết, chỉ mang một nỗi buồn. Mà nỗi buồn, nếu biết đặt đúng chỗ, cũng trở thành lễ vật trong ngày Đại lễ này.
Tôi không biết hôm đó có phép lạ không, nhưng trời đẹp quá sức. Hôm trước mưa như một cơn mưa hồng ân. Ngày Đại lễ, trời lại dịu hơn. Bà con nói vui với nhau: “Chắc Cha Diệp thương đoàn con hành hương, nên xin Chúa che cho một bóng mát.” Tôi nghe vậy mà thấy lòng cũng mát theo.
Hôm Đại lễ nắng không thiêu đốt người hành hương, nhưng cứ ôm lấy cả vùng Tắc Sậy. Mèng ơi, nhìn cảnh quay flycam mà tôi nhớ Cha Diệp quá trời. Nhìn đoàn người mà tôi yêu Cha Diệp quá sức. Hôm ấy tuy mệt nhưng không ai than vãn. Có người lấy khăn lau mặt, có người phe phẩy quạt giấy, có người vừa đi vừa đọc kinh Mân côi. Mấy cụ ông, cụ bà đi chậm, nhưng miệng đọc kinh đều, như mấy chiếc xuồng nhỏ vẫn biết cách vượt qua dòng nước lớn.
Từ xa tôi tiến về lễ đài. Tôi cảm ơn Ban Tổ chức quá sức vì thiệp mời cho tôi ngồi gần gian cung thánh. Phần vì tôi đã theo câu chuyện Cha Diệp từ lâu, phần vì tuổi tác cũng đủ để người ta thương tình nhường cho một chỗ gần hơn.
Tôi không biết phải gọi cảm giác đó là gì. Vui thì có vui. Hãnh diện thì có hãnh diện. Nhưng hơn hết là nghẹn ngào. Cái nấc nghẹn của người thấy một chuyện rất nhỏ trong lòng dân nghèo bỗng được Hội thánh đặt lên bàn thờ ở đây và lúc này. Không phải đặt lên để khoe khoang, nhưng để tạ ơn, như tấm bảng lớn trước cổng chào: “Chúng con về nơi đây để tạ ơn Thiên Chúa”. Không phải vì Cha Diệp cần thêm danh dự, mà vì dân mình cần được nghe một lời xác nhận: “Điều chúng ta đã tin, đã thương, đã giữ trong lòng bao nhiêu năm qua, hôm nay Hội thánh chính thức tuyên phong…”
Mèng ơi, có những sự thật đi chậm dữ lắm. Nhưng hễ đã tới, nó tới bằng cả một bầu trời bình an.
Những tiếng loa rất đời
Trước lễ, tiếng loa vang lên không ngừng.
Có lúc ca đoàn tập hát, đội kèn cất tiếng. Lúc thì ban tổ chức nhắc bà con đừng di chuyển về phía cổng này cổng kia. Có lúc mời quý cha đồng tế về đúng khu vực. Có khi nhắc các bạn truyền thông vào khu tác nghiệp. Thỉnh thoảng mời quý chính quyền, quý đại diện tôn giáo bạn ngồi ở những hàng ghế đầu. Đôi khi lại tập bài đáp ca, bài Alleluia, bài dâng lễ, bài kết lễ.
Mọi thứ chen vào nhau, nghe vừa trọng thể vừa rất đời. Tôi thích cái “rất đời” đó.
Bởi thánh lễ, dẫu cao trọng đến đâu, vẫn diễn ra giữa con người thật, giữa vùng đất quen mặt quen người. Người thật thì có mồ hôi, có lạc đường, có tìm ghế, có lạc lối, khát nước, quên chỗ ngồi, hỏi đi nhà vệ sinh ở đâu. Nếu chỉ có hương trầm và tiếng nhạc, mà không có mấy câu nhắc “xin bà con đừng chen lấn”, thì hình như chưa phải là một Đại lễ của người Việt Nam.
Một anh trật tự viên trẻ chạy ngang qua, áo ướt đẫm mồ hôi. Tôi thấy anh dừng lại đỡ một bà cụ qua lối đi. Bà cụ cầm tay anh, nói:
– Cảm ơn con. Cha Diệp trả công cho con nghen.
Anh cười:
– Dạ, bà cầu nguyện cho con là được rồi.
Tôi nghe vậy mà thấy thương quá sức, liền đưa tay lên lau hai dòng lệ cảm động trên khuôn mặt già nua của mình.
Hồi Cha Diệp còn sống, chắc Cha cũng gặp những con người như thế này. Những người không biết nói lời văn hoa, dài dòng. Không biết giải thích thần học. Không biết phân biệt “tử đạo vì đức tin” với “tử đạo vì đức ái” ra sao. Nhưng họ biết đưa tay đỡ một người già, dắt một em nhỏ. Biết nhường chỗ cho một người yếu đau. Rót cho nhau ly nước. Biết nói một câu nghe mát lòng tựa gió lùa qua hiên nhà.
Nhiều khi Hội thánh sống được là nhờ những chuyện nhỏ đó. Không phải lúc nào cũng nhờ những bài giảng lớn lao.
Chung quanh tôi là đủ mọi hạng người. Có các sơ áo dòng trắng, áo xanh, áo dòng nâu. Có nhiều thầy chủng sinh đứng thành nhóm. Các cha lớn tuổi ngồi chiêm ngắm. Có gia đình trẻ bế con nhỏ. Những người đàn ông da rám nắng, coi bộ đi từ miệt ruộng lên. Rồi cả những người không Công giáo, tôi đoán vậy, vì họ không làm dấu thánh giá, nhưng ánh mắt họ cũng hướng về lễ đài với một sự kính trọng chờ mong.
Cha Diệp lạ vậy đó.
Ngài không giữ người ta ở ngoài cổng. Ai thương thì tới. Ai khổ thì đến xin. Ai chưa biết Chúa mà cần một chỗ tựa cũng nhờ Cha.
Có lẽ vì hồi còn sống, Cha đã không hỏi người ta trước: “Anh có đạo không?” Cha hỏi những câu rất đời như: “Nhà còn gạo hông, ông Bảy?” “Con bệnh lâu chưa?” “Ruộng đó làm được hông, cô Ba?” “Đừng sợ quá heng con!”
Hóa ra tình thương nếu cần tra khảo trước khi thương, thì tình thương đó có điều kiện. Tôi biết Cha Diệp không thương ai theo kiểu xét nét trước sau. Với Cha, người khổ trước hết là người cần được thương.
Đoàn đồng tế tiến vào
Khi đoàn đồng tế bắt đầu tiến vào, cả khu lễ như đổi nhịp.

Tiếng hát nhập lễ vang lên. “Từ muôn phương ta về đây…” Chỉ mấy chữ đầu thôi mà tôi thấy mắt mình cay xè. Từ muôn phương thiệt mà. Người từ Cần Thơ, Sài Gòn, Đồng Nai, Huế, Hà Nội. Người từ Mỹ, Úc, Pháp, Canada. Người từ những vùng quê nhỏ, không ai biết tên. Người từ những nơi đã lâu không còn ngửi mùi bùn non nhưng trong lòng vẫn còn một con rạch quê nhà.
Từ muôn phương, người ta về đây, không phải để xem một lễ hội. Người ta về để chứng kiến một điều mà đời mình có khi chỉ gặp một lần duy nhất.
Đức Hồng y Luis Antonio G. Tagle, Đặc sứ của Đức Thánh Cha, tiến vào trong đoàn rước chủ sự. Ngài cười hiền từ làm tôi nhớ nụ cười của Cha Diệp ngày nào. Các Đức Tổng Giám mục, Giám mục, quý cha, quý tu sĩ, quý đại diện chính quyền, quý tôn giáo bạn, tất cả hiện diện trong một khung cảnh mà tôi nghĩ, nếu Cha Diệp còn sống, chắc Cha sẽ bối rối lắm.
Cha Diệp vốn quen mấy con đường bùn lầy, quen với chiếc xuồng. Cha quen bữa cơm đạm bạc. Quen tiếng gà gáy, tiếng chó sủa, tiếng bà con gọi: “ông Cố ơi!”
Bây giờ tên Cha được xướng lên giữa một Đại lễ có cả Giáo hội hoàn vũ hiện diện. Nghĩ tới đó, tôi bỗng mỉm cười. Tôi tưởng tượng Cha đứng đâu đó phía sau lễ đài, đưa tay gãi đầu, nói nhỏ:
– Làm chi lớn dữ vậy trời? Tui có làm gì đâu.
Người thánh thiện thường vậy. Khi sống thì không nghĩ mình thánh thiện. Khi chết rồi, người khác mới nhận ra ánh sáng. Còn chính họ, nếu được hỏi, chắc họ chỉ nói: “Tôi chỉ làm bổn phận của người mục tử như lòng Chúa ước mong thôi!” Nhưng có những bổn phận, khi được làm tới cùng, sẽ trở thành tử đạo.
Có những lúc “ở lại” bình thường, khi đặt giữa hiểm nguy, sẽ trở thành Tin Mừng. Có những mục tử không cần nói nhiều về tình yêu, vì chính thân xác họ đã trở thành câu trả lời.
Thánh lễ bắt đầu.
Dấu Thánh Giá được xướng lên bằng tiếng Anh. Tôi không hiểu, nhưng lúc dự lễ với Cha Diệp ngày xưa, tôi biết đó là: Nhân danh Cha và Con, và Thánh Thần.
Một biển người làm dấu. Những bàn tay già nua, bàn tay người trẻ, bàn tay chai sần, bàn tay đeo nhẫn cưới, những bàn tay run run vì bệnh. Hàng ngàn, hàng vạn bàn tay cùng vẽ lên thân mình một dấu thánh. Tôi nhìn cảnh đó và tự hỏi: có khi nào chính dấu thánh ấy đã đi qua bao nhiêu đời người Việt Nam, từ những ngày đầu đón nhận Tin Mừng 500 năm trước, qua bao nhiêu biến cố, bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu trung tín âm thầm, để hôm nay dừng lại nơi Tắc Sậy này không?
Có lẽ dấu thánh không bao giờ dừng. Nó chỉ đi tiếp. Từ trán xuống ngực. Từ vai trái sang vai phải. Từ đời Cha Diệp sang đời chúng tôi.
Lời thỉnh cầu
Sau nghi thức đầu lễ, người dẫn lễ mời cộng đoàn ngồi. Nghi thức Tuyên phong Chân phước bắt đầu.
Tôi thấy bầu khí đổi khác liền. Mọi ánh mắt đều hướng lên bàn thờ. Biển người bỗng yên lặng như lúc linh mục truyền phép Thánh Thể.
Đức Giám mục giáo phận Cần Thơ tiến lên. Ngài thay mặt Giáo hội địa phương dâng lời thỉnh cầu. Những lời thỉnh cầu ấy không chỉ là nghi thức. Đó là tiếng nói của một vùng đất. Là tiếng nói của những người đã gìn giữ ký ức về Cha Diệp trong gần tám mươi năm qua. Là tiếng nói của bao nhiêu bà mẹ, người già, giới trẻ, người bệnh, người nghèo, người lương, người giáo.
Họ không biết viết hồ sơ án phong thánh. Tôi cũng không. Nhưng họ biết kể, như tôi vậy. Họ kể bằng nước mắt. Kể bằng bảng tạ ơn. Bằng những chuyến xe hành hương. Rồi bằng lời khấn nguyện âm thầm. Kể bằng niềm tin rất đỗi bình dân: “Cha Diệp thương người nghèo lắm.”
Rồi tiểu sử ngắn của Cha được công bố:
Cha sinh ngày 1 tháng Giêng năm 1897. Chịu chức linh mục năm 1924. Được bổ nhiệm làm Cha sở Tắc Sậy năm 1930. Một đời mục tử nhân hiền, trung thành, tận tụy, và mở mang Nước Chúa. Trong giai đoạn biến động, Cha đã chọn ở lại với dân chúng, không rời bỏ đoàn chiên. Khi bị bắt cùng giáo dân, Cha tự nguyện hiến mình để đoàn chiên được tha.
Tôi đã đọc những dòng ấy nhiều lần trong tài liệu, đã kể nhiều lần ở cuốn sách này. Nhưng lạ lắm, khi nghe công bố giữa đại lễ, nó không còn là thông tin nữa. Nó có da có thịt. Nó có tiếng lòng người chạy loạn nhịp. Có tiếng cửa nhà thờ đóng vội. Rồi mùi kho lúa. Tiếng khóc bị nén lại. Có bóng Cha Diệp bước đi giữa đám người sợ hãi, mà chính Cha chắc cũng sợ, nhưng vẫn không bỏ ai.
Tôi nghe tới câu Cha không rời bỏ đoàn chiên, tự nhiên trong đầu vang lại câu nói của bà già trong xứ mà tôi đã từng kể: “Cha sợ cũng được, miễn cha đừng bỏ tụi con.”
Có những câu nói tưởng như quê mùa, nhưng nếu đem cân với vàng ròng, vàng còn nhẹ hơn bội phần.
Từ nay được gọi là Chân phước
Đức Hồng y Tagle đặc sứ đứng lên công bố Tông thư bằng tiếng Latinh. May mà nhờ lúc học trường cha Tiền, tôi vẫn nhớ đôi ba chữ. (Xem bản văn ở cuối sách).
Mấy chữ Latinh trôi qua tai tôi như một con nước lạ, sâu lắng và cổ kính. Nhưng dù không hiểu, tôi vẫn thấy lòng mình mềm ra. Có những ngôn ngữ người ta không hiểu bằng đầu óc, mà cảm bằng thái độ. Cả cộng đoàn đứng yên. Không ai nói. Không ai nhúc nhích nhiều. Chỉ có gió thổi qua biển người để mát lòng người tham dự.
Rồi bản tiếng Việt được đọc lên. Thời khắc ấy tôi để từng chữ thấm vào tim như hạt phù sa bám vào mảnh ruộng:
TÔNG THƯ[1]
Chúng tôi, đáp lại nguyện vọng của Hiền Đệ chúng tôi
là Phêrô Lê Tấn Lợi, Giám mục Cần Thơ,
cũng như của rất nhiều Anh Em trong Hàng Giám mục
và đông đảo các tín hữu,
sau khi tham khảo ý kiến của Bộ Phong Thánh,
nhân danh Tông Quyền của Chúng tôi,
cho phép để Đấng Đáng Kính Tôi Tớ Thiên Chúa
PHANXICÔ XAVIÊ TRƯƠNG BỬU DIỆP,
linh mục giáo phận, tử đạo, mục tử can đảm
và chứng nhân trung thành của Tin Mừng,
người đã sẵn sàng hiến dâng mạng sống
vì lòng yêu mến Chúa Kitô,
để không bỏ rơi đoàn chiên được trao phó cho ngài,
từ nay được gọi là Chân Phước,
và ngày mười hai tháng Ba, ngày ngài sinh vào cõi thiên đàng,
hằng năm được kính nhớ tại các nơi
và theo các hình thức đã được luật ấn định.
Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen.
Ban hành tại Rôma, bên Tòa Thánh Phêrô,
ngày mồng ba tháng Năm,
nhân lễ hai Thánh Tông Đồ Philípphê và Giacôbê,
năm hai ngàn không trăm hai mươi sáu,
năm thứ nhất Triều Đại Giáo Hoàng của Chúng tôi.
LÊÔ GIÁO HOÀNG XIV

***
Tôi nghe tới mấy chữ “từ nay được gọi là Chân phước” thì mọi trái tim như vỡ òa.
Từ nay, hai chữ đó nhỏ thôi, mà mở ra một cánh cửa lớn. Từ nay, tên Cha không chỉ nằm trong lời kể của người hành hương. Từ nay, tên Cha không chỉ nằm trên mấy tấm bảng tạ ơn. Từ nay, tên Cha không chỉ được nhắc ở quán nước, trên xe đò, trong lời khấn của bà con. Từ nay, Hội Thánh gọi Cha là Chân phước.
Tôi cúi đầu.
Không biết tại sao tôi lại cúi đầu. Có lẽ vì tôi thấy mình đang đứng trước một điều lớn hơn cảm xúc cá nhân. Người ta có thể vui, vỗ tay, có thể khóc. Nhưng sâu hơn tất cả, tôi thấy cần cúi đầu. Vì đây không phải là chiến thắng của một cá nhân. Đây là hồng ân. Mà trước ân sủng, người ta đứng thẳng hoài coi kỳ lắm.
Đứng thẳng mãi dễ tưởng mình xứng đáng. Cúi đầu như bông lúa trĩu hạt để nhớ rằng mọi sự là của Chúa.
Khăn che được mở
Sau Tông thư, người dẫn lễ mời cộng đoàn hướng về chân dung vị tân Chân phước.

Cả biển người cùng hướng mắt lên. Tôi cũng nhìn. Xa xa, mấy tàu dừa khẽ rung trong gió. Không biết có con sóc nào đang chuyền mình trên đó không. Nếu có, chắc nó cũng ngạc nhiên vì hôm nay Tắc Sậy đông đến vậy.
Tấm khăn che còn đó. Một tấm khăn thôi, mà trong giây phút ấy nó nặng như gần tám mươi năm chờ đợi. Nặng như nước mắt của những người đã chết trước khi kịp thấy ngày này. Nặng như lời khấn của người mẹ ôm con đang đau bệnh. Nặng như tiếng gọi “cha Diệp ơi” giữa đêm khuya của một người cùng đường. Nặng như ký ức của cả một vùng đất.
Rồi khăn được mở. Chân dung Cha hiện ra.
Không biết ai bắt đầu trước, nhưng tiếng vỗ tay bùng lên. Có tiếng khóc. Tiếng gọi tên Cha. Có người chắp tay, người làm dấu. Có người chỉ đứng nhìn, mắt đỏ hoe…
Tôi nhìn gương mặt Cha trên cao. Vẫn là gương mặt ấy. Hiền hòa, bình tĩnh. Không có vẻ gì là thích được tung hô. Như thể Cha chỉ đứng đó để nhắc chúng tôi một điều đơn sơ: “Đừng nhìn Cha lâu quá. Nhìn Chúa đi. Rồi nhìn người nghèo nữa.”
Tự nhiên tôi nhớ con sóc ngày xưa.
Thiệt lạ.
Giữa Đại lễ đông người như vậy, không hiểu sao tôi lại nhớ con sóc trên tàu dừa của tuổi thơ. Con sóc nhỏ xíu, chạy trên cao, có lúc xuất hiện, lúc biến mất. Nó đâu biết Tông thư là gì. Đâu biết Chân phước là chi. Nó đâu biết Latinh hay tiếng Việt. Con sóc ấy chỉ biết chuyền mình trên tàu dừa, hóng gió, né nguy hiểm, tìm trái ngon, sống phần đời rất nhỏ của mình.
Nhưng chính cái nhỏ đó đã theo tôi suốt cuốn truyện này.
Và hôm nay, khi khăn che chân dung Cha được mở ra, tôi chợt hiểu thêm: Thiên Chúa hay dùng những điều nhỏ để giữ chặt những điều lớn. Một con sóc giữ ký ức tuổi thơ. Con rạch giữ bóng quê nhà. Bến nước giữ tiếng ba má. Vị linh mục nghèo giữ niềm tin cho cả đoàn chiên. Một cái chết âm thầm giữ lại ánh sáng cho nhiều thế hệ.
Ở Miền Tây này, có khi cái lớn không cần ồn ào. Nó chỉ cần trung tín.
Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống
Thánh lễ tiếp tục.
Kinh Vinh Danh vang lên. Tiếng hát dâng cao dưới bầu trời miền Tây, vang trên toàn thế giới nhờ vào buổi truyền hình trực tiếp. Tôi thấy một đàn chim bay ngang xa xa, nhỏ như mấy chấm đen. Không biết chúng có nghe gì không. Nhưng nếu có, chắc chúng cũng ngạc nhiên: sao hôm nay miệt này đông dữ vậy?
Lời nguyện nhập lễ nhắc đến một vị mục tử nhân lành, kiên trung loan báo Tin Mừng và sẵn sàng hiến mạng sống vì đoàn chiên. Tôi nghe mà lòng cứ ở lại một chữ: đoàn chiên.
Đoàn chiên không phải là khái niệm hay con số. Đoàn chiên là ông bà cụ đang đứng bên tôi, lưng còng, tay lần chuỗi. Đoàn chiên là anh chị thanh niên trật tự viên áo ướt mồ hôi. Đoàn chiên là đứa bé đang ngủ trên vai mẹ. Đoàn chiên là người lương dân đứng xa xa, không biết đáp “Amen” lúc nào, nhưng vẫn nghiêm trang cúi đầu. Đoàn chiên là những người Cha Diệp đã không bỏ rơi.
Bài đọc thứ nhất kể về thánh Stêphanô. Ông bị chống đối, bị lôi ra ngoài thành, bị ném đá. Trước khi chết, thánh nhân cầu xin Chúa đón nhận linh hồn mình, và xin đừng chấp tội những người làm hại mình.
Tôi nghe mà thấm thía!
Đời các thánh tử đạo không bao giờ là chuyện dễ nghe. Nếu kể kỹ quá, người ta sợ đến thoái lui. Còn kể nhẹ quá, người ta quên cái giá của đức tin. Phải kể sao cho đúng. Đúng để không tô màu máu đỏ thành màu hồng. Đúng để người đọc hiểu: tử đạo không phải là thích chết, mà là yêu đến mức cái chết không còn có quyền bắt mình phản bội tình yêu.
Đáp ca vang lên: “Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống…”
Tôi hát theo trong bụng. Không phải vì không được hát lớn tiếng, mà vì cổ tôi cứ nghẹn lại…
Cha Diệp ra đi gieo giống thật. Hạt giống ấy rơi xuống đất Tắc Sậy. Có một thời gian dài, người ta tưởng nó bị chôn vùi. Nhưng đất miền Tây kỳ lắm. Nó nhận nước, nhận phù sa, nhận cả nước mắt người ta, rồi một ngày nào đó, cái tưởng như mất hút lại mọc lên cao.
Mùa gặt hôm nay không phải mùa gặt của danh tiếng. Đây là mùa gặt của lòng tin.
Bài đọc hai từ thư thánh Phêrô nhắc người tín hữu luôn sẵn sàng trả lời về lý do của niềm hy vọng, nhưng phải làm với sự hiền từ, kính cẩn và lương tâm ngay chính.
Tôi thấy câu đó hợp với Cha Diệp lạ lùng.
Cha đã trả lời về niềm hy vọng của mình không bằng một bài diễn văn. Cha trả lời bằng đời sống. Bằng kho lúa mở ra cho người đói. Bằng mảnh đất chia cho người nghèo. Chuyến đi thăm người bệnh. Bằng quyết định ở lại, và chịu tử đạo.
Có những câu trả lời không cần dài. Chỉ cần thật thà.
Phúc cho ai bị bách hại
Bài Tin Mừng hôm ấy là lời Chúa Giêsu nói với các môn đệ: nếu thế gian ghét anh em, hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước.

Tôi nghe câu đó giữa Tắc Sậy mà thấy như nghe lại từ một căn nhà nhỏ năm xưa. Căn nhà có Cha Diệp, có giáo dân sợ hãi, lời khuyên Cha đi lánh nạn, có câu trả lời không ồn ào nhưng dứt khoát: “Cha ở lại”.
Bài giảng của Đức Hồng y đặc sứ bắt đầu bằng một câu hỏi:
– Tại sao một người bị bắt hại và bị giết lại được gọi là “có phúc”? Theo lẽ thường, người ta phải gọi đó là người bất hạnh, người xấu số mới đúng chớ?
Tôi thích câu hỏi đó.
Vì nó là câu hỏi của rất nhiều người. Không phải ai cũng hiểu ngay chữ “Chân phước”. Không phải ai cũng hiểu tại sao Hội thánh không gọi sự chết là thất bại. Không phải ai cũng hiểu vì sao một người bị giết lại được tôn vinh.
Rồi Đức Hồng y dẫn cộng đoàn trở về với Tin Mừng. Phúc cho ai xây dựng hòa bình. Phúc cho ai bị bách hại vì lẽ công chính. Phúc cho ai bị sỉ vả, bị vu cáo vì danh Chúa. Phúc không phải vì đau khổ tự nó tốt. Phúc là vì người ấy thuộc về Chúa đến mức thế gian không mua chuộc được nữa.
Tôi ngồi nghe, thấy lòng mình được chạm tới.
Có lẽ vì lần đầu tiên tôi hiểu sâu hơn: Chân phước không phải là danh hiệu trang trí cho một người đã chết. Chân phước là một câu hỏi gửi cho người đang sống: Anh chọn gì? Chị chọn gì? Tôi chọn chi đây?
Đức Hồng y hỏi cộng đoàn nhiều câu như vậy. Chọn làm giàu bất chính hay chấp nhận mưu sinh thật thà? Chọn tích trữ của cải hay chia sẻ với người nghèo? Chọn sự an toàn riêng mình hay dám mang lấy nỗi khổ của người khác? Chọn loan truyền sự thật của Chúa hay thả trôi những tin giả làm hại người ta?
Mấy câu hỏi ấy rơi xuống cộng đoàn như cơn mưa đầu mùa. Không ồn ào, nhưng thấm sâu vào đất.
Tôi thấy người đàn ông ngồi bên cạnh cúi đầu. Đôi tay ông siết chặt. Không biết ông nghĩ gì. Có thể ông nhớ một chuyện làm ăn chưa ngay. Có thể ông nhớ một người nghèo mình đã làm ngơ. Có thể ông chỉ mệt vì đường dài đêm qua. Nhưng tôi tin, trong một Đại lễ như vậy, Chúa biết cách nói riêng với từng người.
Người miền Tây có câu: “Nói gần nói xa, chẳng qua nói thiệt.”
Bài giảng hôm ấy, với tôi, Đức Hồng y nói thiệt lòng, không làm bộ.
Tử đạo không chỉ là chuyện ngày xưa. Tử đạo hôm nay có thể bắt đầu từ những lựa chọn rất nhỏ: sống thật khi gian dối có lợi hơn; chia sẻ khi giữ lại dễ hơn; tha thứ khi trả thù đã miệng hơn; ở lại khi bỏ đi khỏe thân hơn.
Cha Diệp không chỉ mời chúng tôi ngước nhìn ngài. Cha hỏi chúng ta có dám sống một chút gì giống ngài không.
Bạo lực không phải tiếng nói cuối cùng
Cuối bài giảng, Đức Hồng y nhắc đến lời mời gọi đừng chịu thua trước bạo lực. Bạo lực không phải là tiếng nói sau cùng. Thiên Chúa vẫn mở ra những con đường hòa giải và bình an trong lịch sử. Con người phải can đảm bước đi trên con đường ấy.
Tôi nghe tới đó, lòng mình bỗng nhẹ lại.
Vì câu chuyện cha Diệp, nếu kể không khéo, dễ làm người ta mắc kẹt ở cái chết. Mà cái chết của người tử đạo không bao giờ là điểm cuối. Nếu là điểm kết, thì chúng ta chỉ còn thương tiếc, có khi là oán hận. Nhưng nếu là hạt giống, thì chúng ta có hy vọng.
Cha Diệp bị giết, nhưng ngài không để sự dữ đọng lại trong câu cuối cùng cho đời mình. Câu ấy không phải là lưỡi gươm. Không phải là kho thóc. Chẳng phải là nỗi sợ, hay tiếng khóc. Câu cuối cùng là Tin Mừng. Là đoàn người hôm nay đứng giữa Tắc Sậy, lương giáo có mặt, người xa người gần hiện diện, già trẻ lớn bé ở đây, để cùng nói rằng: tình yêu mạnh hơn bạo lực.
Tôi nghĩ đến những vùng đất còn nhiều chia rẽ. Những gia đình còn nhiều vết thương. Cộng đoàn còn có khi hiểu lầm nhau. Người trẻ đang bối rối trước thời đại. Nếu cha Diệp có thể nói với họ hôm nay, chắc Cha không nói điều gì cao siêu. Có lẽ Cha nói:
– Đừng để lòng mình ra hung dữ. Đừng để nỗi sợ làm mình cọc cằn. Đừng để khổ đau biến mình thành người gây thêm đau khổ cho người khác.
Nói vậy nghe đơn sơ, nhưng sống được thì nên thánh.
Bàn tiệc giữa biển người
Khi phụng vụ Thánh Thể bắt đầu, bầu không khí trở nên sâu lắng hơn.
Tôi thấy vài lễ vật được dâng lên. Muối, lúa, bánh, rượu, và cả đời sống của một vùng đất. Đời sống đó có mùi mồ hôi của người trật tự viên, mùi nhang của bà cụ, mùi nắng trên áo khách hành hương, mùi bùn non từ những đôi dép vừa đi qua bãi đất, nước mắt của người đã khấn xin bao năm.
Tất cả được đưa lên bàn thờ.
Tôi vẫn luôn tin rằng, trong mỗi thánh lễ, có những lễ vật không ai thấy. Lúa hay muối thì thấy. Bánh rượu cũng vậy. Nhưng nỗi buồn của người mẹ, sự kiên nhẫn của người cha, bệnh tật của cụ già, hoang mang của người trẻ,… những điều đó không ai thấy. Vậy mà Chúa thấy. Và Chúa đón nhận.
Đến lúc truyền phép, cả biển người cúi đầu thinh lặng. Có người không Công giáo cũng cúi đầu theo. Không gian rộng vậy mà yên lặng đến lạ lùng. Nếu con sóc có chạy qua tàu dừa, thì chắc ai cũng nghe thấy.
Mình Máu Thánh Chúa được nâng cao. Tất cả chuyện về Cha Diệp, nếu không dẫn tới đây, thì còn thiêu thiếu cái gì đó. Vì Cha Diệp không sống cho chính mình. Cha sống vì Chúa Kitô. Cha không chết để người ta lập một tượng đài hoành tráng. Cha chết như một mục tử thuộc về Đức Kitô, Đấng đã bẻ mình ra cho muôn người.
Tôi tự nhủ: trung tâm hôm nay không phải là cha Diệp. Trung tâm là Thiên Chúa, là Chúa Giêsu. Và Cha Diệp đang đứng gần trung tâm ấy bằng cả đời mình, nên khi người ta nhìn Cha, nếu nhìn cho đúng, họ sẽ được dẫn tới Chúa.
Khi tới phần hiệp lễ, các linh mục tỏa đi trao Mình Thánh Chúa. Từng hàng người được hướng dẫn tiến lên. Có những bàn tay chắp lại. Những cái cúi đầu. Có những môi miệng đáp “Amen” rất khẽ. Mình Thánh Chúa đi qua giữa biển người, như ngày xưa cha Diệp đi qua giữa những con rạch, qua bờ đê, qua xóm nghèo, để thăm từng nhà.
Tôi thấy một bà cụ không đi lên được. Một thừa tác viên đến tận chỗ bà. Bà run run đón Chúa, rồi nhắm mắt rất lâu. Tôi không biết bà cầu nguyện gì. Nhưng nhìn gương mặt bà, tôi nghĩ Chúa đã nghe trước khi bà kịp nói ra.
Không của riêng ai
Sau hiệp lễ, Thánh lễ đi dần về cuối. Có huấn từ, lời cảm ơn. Có những tràng pháo tay. Những bó hoa được dâng. Có những cái tên được nhắc đến: Đức Thánh Cha, Đức Hồng y đặc sứ, vị đại diện Tòa Thánh, Hội đồng Giám mục, Giáo phận Cần Thơ, quý cha, quý tu sĩ, quý ân nhân, quý chính quyền, quý tôn giáo bạn, những người âm thầm phục vụ hồ sơ phong Chân phước, những người góp công góp của cho đại lễ.
Tôi nghe lời cảm ơn dài mà không cảm thấy lâu.
Vì một ngày như thế này không thể chỉ do một người làm. Phép lạ lớn thường có bàn tay của rất nhiều người nhỏ. Người dựng lễ đài. Người phát nước, giữ trật tự. Nhóm tập hát, lo âm thanh. Người dịch tiếng Anh. Người in sách lễ. Các bạn dọn rác, thức đêm cầu nguyện. Người làm hồ sơ. Người phỏng vấn nhân chứng. Người lặng lẽ viết từng trang tài liệu. Người sửa từng lỗi chính tả. Người ngồi dưới nắng để khách hành hương có chỗ ngồi.
Tất cả đều có phần.
Có một điều tôi nhớ như in, đó là cha Diệp không của riêng người Công giáo. Cha Diệp là người con của Hội Thánh, nhưng chứng tá yêu thương của ngài đã chạm tới mọi người, lương cũng như giáo.
Ở tuổi này, tôi thấy câu đó đúng.
Nếu cha Diệp chỉ là của riêng người Công giáo, thì dòng người hôm nay chắc đã nhỏ hơn. Nhưng vì cha đã thương cả người lương lẫn người giáo, nên hôm nay cả lương lẫn giáo cùng thương Cha. Đời công bằng vậy đó. Mình mở cửa lòng khi sống, thì sau khi chết, lòng người ta cũng mở cửa cho mình.
Một người không phân biệt khi thương, thì người ta cũng không phân biệt khi nhớ.
Tôi nhìn quanh. Một người đàn ông không Công giáo đứng bên hàng rào, hai tay chắp trước ngực. Ông không biết đáp kinh, nhưng biết cúi đầu. Một cô gái trẻ quay phim bằng điện thoại, mắt rưng rưng. Một em thiếu nhi hỏi mẹ:
– Mẹ ơi, cha Diệp là thánh hả mẹ?
Người mẹ cúi xuống nói:
– Là Chân phước thôi con. Nghĩa là gần Chúa lắm.
Đứa nhỏ lại hỏi:
– Gần Chúa rồi có nghe mình nói hông mẹ?
Người mẹ im một chút, rồi đáp:
– Có chớ. Nhưng con chỉ cần nói nhỏ… Cha Diệp cũng nghe được.
Tôi quay mặt đi.
Không phải vì câu trả lời ấy đầy đủ như một định nghĩa thần học. Nhưng nó đúng theo cách một người mẹ gieo vào lòng con một hạt giống đức tin. Nhiều khi đức tin bắt đầu như vậy. Không phải bằng định nghĩa dài dòng, mà bằng một câu nói nhỏ đủ làm đứa trẻ thấy trời cao không xa lắm.
Lễ xong, nhưng lòng chưa xong
Phép lành cuối lễ được ban: “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an.”
Cộng đoàn đáp: “Tạ ơn Chúa.”

Tiếng hát kết lễ vang lên, ca mừng Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, niềm tin thắp sáng trên quê hương Việt Nam. Người ta hát hay hơn lúc đầu. Có lẽ vì bây giờ không chỉ hát để chuẩn bị, mà hát như người đã nhận được một điều gì đó trong tay.
Nhưng lạ thay, lễ xong rồi mà nhiều người không muốn về. Tôi cũng nán lại để chứng kiến vài điều hay hay.
Người ta còn đứng nhìn lễ đài. Còn chụp hình. Tìm nhau. Còn gọi điện báo cho người nhà: “Xong rồi! Cha Diệp được Tuyên phong Chân phước rồi!”
Có bà cụ nói qua điện thoại rất lớn, chắc vì tưởng người bên kia nghe không rõ:
– Ờ, mẹ thấy rồi! Đông lắm… vui lắm! Mẹ khóc quá trời!
Tôi cười.
Khóc quá trời mà nói nghe vui quá sức. Đúng là người miền Tây.
Dòng người bắt đầu tản ra, nhưng không tan tác. Nó chỉ đổi hướng. Người về bãi xe. Người đi viếng mộ. Tìm nước uống. Người tìm chỗ ăn cơm. Người ngồi bệt xuống vệ đường nghỉ chân. Mấy đứa nhỏ chạy chơi, áo quần nhễ nhại mồ hôi. Các trật tự viên vẫn đứng chỉ lối, mặt mệt nhưng vui.
Tôi đi ngang một gốc dừa.
Không biết có phải vì nhiều cảm nghiệm làm hoa mắt không, hay vì ký ức thích bày trò, tôi bỗng thấy trên một tàu dừa có cái gì động đậy. Nhỏ và nhanh. Một bóng xám vụt qua. Cái đuôi cong lên. Rồi mất hút…
Tôi đứng khựng lại.
Một con sóc.
Thiệt hay tưởng tượng, tôi không dám chắc. Nhưng tôi thấy nó.
Nó chuyền mình trên tàu dừa, nhanh như thuở nhỏ. Nó không biết hôm nay là Đại lễ. Không biết Đức Hồng y là ai. Không biết Tông thư nói gì. Không biết chữ “Chân phước” nghĩa ra sao. Nó chỉ chạy theo đường của nó, giữa nắng và gió miệt vườn, giữa tiếng người còn rộn ràng sau lễ.
Tôi nhìn nó mà thấy lòng nhẹ tênh. Bao nhiêu năm rồi, con sóc vẫn chạy.
Không phải cùng một con sóc ngày xưa, chắc chắn vậy. Đời sóc ngắn hơn đời người. Nhưng hình ảnh ấy thì còn. Nó nối tuổi thơ tôi với hôm nay. Nối con rạch nhỏ với lễ đài lớn. Nối tiếng “lạo xạo” trên mái lá với tiếng “Amen” của hàng vạn con người. Nối cái bình dị của miền Tây với sự trọng thể của Giáo hội.
Tự nhiên tôi hiểu: mình đã kết thúc cuốn sách hơi sớm.
Tôi đã viết “Hết” ở cuối chương hành hương, nhưng hôm nay mới thấy, câu chuyện của Cha Diệp chưa hết. Không phải vì còn nhiều điều để kể, mà vì một người sống trong Chúa thì không khép lại trong trang sách. Người ấy tiếp tục bước đi trong lòng dân, trong lời cầu nguyện, trong những lựa chọn nhỏ mỗi ngày.
Đại lễ hôm nay không phải là dấu chấm hết. Nó là một dấu phẩy. Sau dấu phẩy ấy, mỗi người phải viết tiếp bằng đời mình.
Một người cha trong gia đình sẽ viết tiếp bằng cách sống trung tín với vợ con.
Người mẹ sẽ viết tiếp bằng cách giữ ngọn lửa kinh tối trong nhà.
Một linh mục sẽ viết tiếp bằng cách không bỏ đoàn chiên khi mỏi mệt.
Người trẻ sẽ viết tiếp bằng cách chọn sự thật thay vì gian dối.
Một người già sẽ viết tiếp bằng lời cầu nguyện âm thầm.
Người lương dân sẽ viết tiếp bằng lòng nhân ái mà chính Cha Diệp đã sống.
Còn tôi, tôi viết tiếp bằng mấy dòng này. Viết để nhớ, để tri ân.
Trên hết, tôi viết để nói với chính mình rằng: nếu có một ngày đời mình gặp khúc nước đục, xin đừng vội bỏ bến. Nếu có một ngày sợ hãi kéo tới như con nước lớn, xin nhớ Cha Diệp cũng đã từng sợ, nhưng Cha vẫn ở lại. Nếu một ngày thấy mình nhỏ bé như con sóc trên tàu dừa, xin nhớ Thiên Chúa vẫn có thể dùng cái nhỏ bé ấy để giữ lại một mảnh trời ký ức.
Tôi quay lại nhìn lễ đài lần cuối.
Chân dung cha vẫn ở đó: Hiền, lặng và sáng.
Không sáng như ánh đèn sân khấu trong đêm diễn nguyện. Nhưng sáng như ngọn đèn dầu trong căn nhà nghèo. Ánh sáng đó không làm chói mắt, nhưng đủ để người ta khỏi lạc đường.
Tôi thầm nói, như nói với người anh năm xưa, với vị mục tử hôm nay của cả đoàn dân:
– Anh Diệp ơi, Cha Diệp à, Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, xin cầu cho chúng con.
Rồi tôi bước theo dòng người ra về.
Trên cao, tàu dừa khẽ rung. Tôi không thấy con sóc nữa. Nhưng lần này, tôi không thấy thiếu. Vì tôi biết, có những điều không cần hiện ra mãi mới là còn đó. Có những người không còn đi giữa chúng ta, nhưng vẫn giữ cho chúng ta một lối về.
Và có những ngày đại lễ, khi tiếng hát đã tắt, lễ đài đã dọn, người ta đã lên xe về lại nhà mình, thì trong lòng mỗi người vẫn còn vang lại lời mời gọi của vị chủ chăn Giáo phận Cần Thơ: quyết tâm và hy vọng. Quyết tâm để không sống hời hợt. Hy vọng để không cho sự dữ viết câu cuối cùng. Từ cả hai điều ấy, với tôi, được gom lại trong một chữ rất quen của Cha Diệp: ở lại:
– Ở lại với Chúa.
– Ở lại với người nghèo.
– Ở lại với đoàn chiên.
– Ở lại với điều thiện.
– Ở lại với tình thương.
– Ở lại cho đến cùng.
Lm. Giuse Phạm Đình Ngọc SJ
______________
[1] Bản văn Tông thư được trích theo bản công bố trong Thánh lễ Tuyên phong Chân phước.

Có thể bạn quan tâm
Viết Tiếp Truyện Chân Phước Trương Bửu Diệp
Th7
Tài Liệu Chúa Giêsu Kitô, Đấng Mang Nước Hằng Sống – Một Suy..
Th7
Thánh lễ Cam Kết của 72 thành viên tại Giáo xứ Quý Hòa..
Th7
Cầu Nguyện Cho Việc Tôn Trọng Sự Sống Con Người – Suy Niệm..
Th7
Nước Mắt Cá Sấu – Mỗi Tuần Một Thành Ngữ
Th7
Ý Cầu Nguyện Của Đức Thánh Cha Tháng 7/2026: Cầu Cho Việc Tôn..
Th7
Thường huấn khối Khấn Trọn 5 năm đầu tại Cụm 2
Th7
Cáo phó: Thân phụ của nữ tu Anna Hoàng Thị Hoài (Cộng đoàn..
Th7
Vén mở bí nhiệm Nước Trời (Suy niệm Tin Mừng Chúa Nhật XIV..
Th7
Gia Đình Nên Thánh Trong Thời Đại Kỹ Thuật Số
Th7
Thoát Khỏi Cái Nhìn Công Nghệ
Th7
Nghi thức Gia nhập Tập viện
Th7
Chương Trình Và Link Video Trực Tiếp Thánh Lễ Tuyên Phong Chân Phước..
Th7
Sứ Điệp Cho Chúa Nhật Biển (12/7/2026) – Vượt Trên Hàng Hóa Và..
Th6
Giáo Hội Và Nỗ Lực Xây Dựng Nền Thần Học Đối Thoại Để..
Th6
Thư Mục Vụ Về Việc Sử Dụng Mạng Xã Hội Của Ủy Ban..
Th6
Giám Đốc AI Của Microsoft: Thông Điệp Magnifica Humanitas Mang Lại Đóng Góp..
Th6
Thánh Lễ Cam Kết Và Gia Nhập Của 131 Thành Viên Thuộc 8..
Th6
Mất Tất Cả Và Được Mọi Thứ (Suy Niệm Tin Mừng Chúa..
Th6
Tài Liệu Học Tập Thượng Hội Đồng Giám Mục Về Hiệp Hành Dành..
Th6