Dẫn nhập

Một khó khăn của thời đại hôm nay

Tân ước và bối cảnh của Tân ước

Chứng từ của chính Chúa Giêsu

Giáo huấn chung

Công đồng Lateranô IV (1215)

Công đồng về Ma quỷ

Tầm quan trọng của Công đồng Lateranô IV

Giáo huấn chung của các Giáo hoàng và các Công đồng

Lập luận Phụng vụ

Phụng vụ được canh tân

Không có sự nhượng bộ nào

THÁNH BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN

Đức tin Kitô giáo và Ma quỷ luận

Ngày 04 tháng 7 năm 1975

Thánh Bộ Giáo lý Đức tin đã ủy thác cho một chuyên gia soạn thảo bản nghiên cứu sau đây, và Thánh Bộ hết sức khuyến nghị bản nghiên cứu này như một nền tảng vững chắc để tái khẳng định giáo huấn của Huấn quyền về chủ đề: Đức tin Kitô giáo và Ma quỷ luận.

Dẫn nhập

Nhiều hình thức mê tín dị đoan, sự ám ảnh với Satan và ma quỷ, cũng như các hình thức thờ phượng hoặc gắn bó với chúng luôn bị Giáo hội lên án từ trước đến nay.[1] Vì thế, sẽ là sai lầm nếu cho rằng Kitô giáo, khi quên đi quyền tối cao của Đức Kitô, đã từng đặt Satan làm đối tượng ưu tiên trong lời rao giảng của mình, biến Tin mừng về Chúa Phục sinh thành một sứ điệp gieo rắc nỗi kinh hoàng. Khi nói với các Kitô hữu tại Antiôkhia, thánh Gioan Kim Khẩu đã tuyên bố: “Chắc chắn chúng tôi chẳng vui thích gì khi nói với anh em về ma quỷ, nhưng giáo huấn mà đề tài này cho tôi cơ hội trình bày lại rất hữu ích cho anh em.”[2]Thật vậy, sẽ là một sai lầm đáng tiếc nếu hành động như thể lịch sử đã hoàn tất và công trình Cứu chuộc đã đạt được mọi hiệu quả của mình, mà không còn cần phải tiến hành cuộc chiến đấu mà Tân ước và các bậc thầy đời sống thiêng liêng đã nói tới nữa.

Một khó khăn của thời đại hôm nay

Chính sự khinh suất ấy rất có thể là một sai lầm của thời đại hôm nay. Thật vậy, nhiều người đang đặt câu hỏi liệu có nên xét lại giáo lý về vấn đề này hay không, bắt đầu từ chính Thánh kinh. Có người cho rằng không thể đưa ra bất kỳ lập trường nào. Khi khẳng định rằng Thánh kinh không cho phép khẳng định cũng như phủ nhận sự tồn tại của Satan và ma quỷ, họ ngụ ý rằng có thể tạm gác việc xem xét vấn đề này. Thường thì chính sự tồn tại của ma quỷ bị đặt câu hỏi một cách thẳng thắn. Một số nhà phê bình tin rằng họ có thể xác định lập trường riêng của Chúa Giêsu, chủ trương rằng không có lời nào của Người bảo đảm sự tồn tại của ma quỷ. Họ quả quyết rằng việc khẳng định sự tồn tại của thực tại này, ở những nơi có đề cập đến, chỉ phản ánh các quan niệm trong các văn liệu Do thái giáo hoặc phụ thuộc vào các truyền thống của Tân ước, chứ không phát xuất từ chính Đức Kitô. Theo họ, vì thực tại ma quỷ không thuộc về sứ điệp cốt lõi của Tin mừng, nên ngày nay nó không còn đòi buộc đức tin của chúng ta nữa, và chúng ta có thể tự do bác bỏ nó. Những người khác, vừa khách quan hơn vừa triệt để hơn, chấp nhận ý nghĩa hiển nhiên của các phát biểu về ma quỷ trong Thánh kinh, nhưng lập tức thêm rằng trong thế giới ngày nay những phát biểu ấy là điều không thể chấp nhận được, ngay cả đối với các Kitô hữu. Vì thế, họ cũng loại bỏ chúng. Còn đối với những người khác nữa, ý niệm về Satan, bất kể nguồn gốc của nó là gì, đã mất đi tầm quan trọng. Nếu chúng ta cứ tiếp tục nhấn mạnh điều đó, giáo huấn của chúng ta sẽ mất hết uy tín. Điều đó sẽ phủ bóng lên giáo huấn của chúng ta về Thiên Chúa, là Đấng duy nhất đáng để chúng ta quan tâm. Sau cùng, đối với tất cả những người vừa nêu, các tên gọi Satan và ma quỷ chỉ là những sự nhân cách hóa mang tính huyền thoại hoặc mang tính chức năng; ý nghĩa của chúng chỉ nhằm nhấn mạnh một cách đầy kịch tính sự kìm hãm mà sự dữ và tội lỗi đang áp đặt lên nhân loại. Chúng chỉ là những từ ngữ mà thời đại chúng ta phải giải mã, ngay cả khi phải tìm ra một cách thức khác để khắc ghi bổn phận của các Kitô hữu là chiến đấu chống lại mọi hình thức sự dữ trong thế giới.

Những quan điểm tương tự như thế, được lặp đi lặp lại với một khối lượng kiến thức đồ sộ và được phổ biến qua các tạp chí cũng như một số từ điển thần học, không thể không gây xáo trộn cho nhiều người. Các tín hữu vốn quen coi trọng những lời cảnh báo của Đức Kitô và các tác phẩm của các Tông đồ cảm thấy rằng kiểu giáo huấn này nhằm tác động đến dư luận. Những người trong số họ am hiểu các khoa học Thánh kinh và tôn giáo thì tự hỏi tiến trình hóa giải huyền thoại được khởi xướng nhân danh khoa chú giải sẽ dẫn đến đâu.

***

Trước những khẳng định như thế và để trả lời lập trường mà họ đưa ra, trước hết chúng ta cần xem xét ngắn gọn Tân ước, nhằm viện dẫn các lời chứng và thẩm quyền của Tân ước.

Tân ước và bối cảnh của Tân ước

Trước khi nhắc lại sự độc lập trong tư tưởng vốn luôn đặc trưng nơi Chúa Giêsu đối với các quan điểm của thời đại Người, cần lưu ý rằng không phải tất cả những người đương thời của Người đều có cùng niềm tin vào các thiên thần và ma quỷ như ngày nay người ta thường gán cho họ, và từ đó cho rằng chính Chúa Giêsu cũng lệ thuộc vào niềm tin ấy. Thật vậy, một ghi chú trong sách Công vụ Tông đồ, nhằm giải thích cuộc tranh luận phát sinh giữa các thành viên của Thượng Hội đồng Do Thái liên quan đến một phát biểu của thánh Phaolô, cho thấy rằng, trái với nhóm Pharisêu, nhóm Xađốc không chấp nhận “sự sống lại, thiên thần hay thần linh”, điều mà các nhà chú giải uy tín hiểu là họ không tin vào các thiên thần và ma quỷ cũng như không tin vào sự phục sinh thân xác.[3] Vì thế, về vấn đề Satan và ma quỷ, cũng như về các thiên thần, dư luận đương thời dường như đã bị phân hóa rõ rệt thành hai lập trường hoàn toàn đối lập. Vậy làm sao có thể khẳng định rằng Chúa Giêsu, khi trừ quỷ và trao ban quyền trừ quỷ, cũng như các tác giả Tân ước sau Người, chỉ đơn thuần tiếp nhận trong lĩnh vực này các quan niệm và thực hành của thời đại mình mà không có bất cứ sự phê phán hay thẩm định nào? Không ai phủ nhận rằng Đức Kitô, và đặc biệt là các Tông đồ, thuộc về thời đại của mình và chia sẻ nền văn hóa đương thời. Tuy nhiên, do bản tính thần linh của Người và do mạc khải mà Người đến để truyền đạt, Chúa Giêsu vượt lên trên môi trường và thời đại của mình: Người không bị áp lực của chúng chi phối. Hơn nữa, chỉ cần đọc Bài Giảng trên núi cũng đủ để xác tín về sự tự do trong tư tưởng của Chúa Giêsu cũng như lòng tôn trọng của Người đối với truyền thống.[4] Chính vì thế, khi mạc khải ý nghĩa công trình Cứu chuộc của mình, rõ ràng Người phải lưu tâm đến những người Pharisêu, những người cũng như Người tin vào đời sau, vào linh hồn, vào các thần linh và sự phục sinh thân xác; nhưng Người cũng phải lưu tâm đến những người Xađốc, những người không chấp nhận những niềm tin ấy. Vì vậy, khi những người Pharisêu tố cáo Người trừ quỷ nhờ quyền lực của quỷ vương, Người hoàn toàn có thể thoát khỏi tình thế bằng cách đứng về lập trường của nhóm Xađốc. Nhưng nếu làm như thế, Người sẽ phủ nhận chính sứ mạng và căn tính của mình. Do đó, trong khi không phủ nhận niềm tin vào các thần linh và sự phục sinh thân xác mà Người có chung với những người Pharisêu, Người vẫn phải tách mình khỏi họ, đồng thời chống lại những người Xađốc. Vì thế, việc ngày nay quả quyết rằng những lời Chúa Giêsu nói về Satan chỉ là một giáo thuyết vay mượn, không có tầm quan trọng nào đối với đức tin phổ quát, ngay từ cái nhìn đầu tiên đã cho thấy một quan điểm thiếu hiểu biết về bối cảnh lịch sử cũng như về chính con người của Thầy Chí Thánh. Nếu Chúa Giêsu đã sử dụng cách nói ấy, và nhất là nếu Người đã đưa nó vào thực hành qua sứ vụ của mình, thì đó là vì Người đang diễn tả một giáo huấn cần thiết, ít ra một phần, để hiểu biết và đón nhận thực tại ơn cứu độ mà Người mang đến.

Chứng từ của chính Chúa Giêsu

Những trình thuật chính về việc chữa lành những người bị quỷ ám cũng được Đức Kitô thực hiện trong những hoàn cảnh được các bản tường thuật về sứ vụ của Người trình bày như những thời điểm mang tính quyết định. Các cuộc trừ quỷ của Người đặt ra và định hướng vấn đề về sứ mạng cũng như về chính con người của Người; những phản ứng mà chúng gây nên đủ cho thấy điều đó[5]. Tuy Chúa Giêsu không bao giờ đặt Satan vào vị trí trung tâm của Tin mừng Người rao giảng, nhưng Người chỉ nói về hắn trong những dịp rõ ràng mang tính quyết định và bằng những lời tuyên bố quan trọng. Trước hết, chính bằng việc chấp nhận để ma quỷ cám dỗ trong hoang địa mà Người khởi đầu sứ vụ công khai của mình: trình thuật của thánh Máccô, chính vì sự ngắn gọn của nó, cũng mang tính quyết định như các trình thuật của thánh Mátthêu và thánh Luca.[6] Một lần nữa, chính việc chống lại đối thủ này mà Người đã cảnh báo các người nghe của mình trong Bài giảng trên núi và trong lời cầu nguyện mà Người dạy các môn đệ, Kinh Lạy Cha, như ngày nay được nhiều nhà chú giải thừa nhận,[7] với sự hỗ trợ của truyền thống phụng vụ trong nhiều nghi lễ khác nhau.[8] Trong các dụ ngôn, Chúa Giêsu quy cho Satan những trở ngại mà việc rao giảng của Người gặp phải,[9] cũng như cỏ lùng được phát hiện trong thửa ruộng của người chủ.[10] Với ông Simon Phêrô, Người báo trước rằng “quyền lực tử thần” sẽ tìm cách thắng được Hội thánh,[11] rằng Satan sẽ sàng ông như sàng gạo, và cả các Tông đồ khác nữa.[12] Khi rời Phòng Tiệc Ly, Đức Kitô tuyên bố rằng “thủ lãnh thế gian này” sắp đến.[13] Tại vườn Ghếtsêmani, khi toán lính bắt giữ Người, Người nói rằng giờ của “quyền lực tối tăm” đã đến.[14] Tuy nhiên, ngay từ Phòng Tiệc Ly, Người đã biết và đã tuyên bố rằng thủ lãnh thế gian này đã bị xét xử rồi.[15] Những sự kiện và lời tuyên bố ấy, được đặt đúng chỗ, được lặp lại nhiều lần và hài hòa với nhau, không phải là kết quả của ngẫu nhiên. Không thể coi chúng là những chuyện hoang đường cần phải được hóa giải huyền thoại. Bằng không, người ta sẽ phải thừa nhận rằng trong những giờ phút quyết định ấy, tâm trí của Chúa Giêsu, Đấng mà Thánh kinh làm chứng về sự sáng suốt và tự chủ trước các quan án, đã bị chi phối bởi những ảo tưởng hão huyền và lời nói của Người hoàn toàn thiếu nền tảng vững chắc. Điều đó trái ngược với ấn tượng mà những người nghe đầu tiên, cũng như các độc giả Tin mừng ngày nay, nhận được. Chỉ có một kết luận tất yếu: Satan, kẻ mà Chúa Giêsu đã đối đầu qua các cuộc trừ quỷ, kẻ mà Người đã gặp trong hoang địa và trong Cuộc Thương khó, không thể đơn thuần là sản phẩm của trí tưởng tượng con người trong việc tạo dựng các huyền thoại và nhân cách hóa các ý tưởng, cũng không thể là tàn dư sai lạc của một ngôn ngữ văn hóa nguyên thủy.

Đúng là khi thánh Phaolô tóm lược trong thư gửi tín hữu Rôma tình trạng của nhân loại trước khi Đức Kitô đến, ngài đã nhân cách hóa tội lỗi và sự chết, cho thấy sức mạnh đáng sợ của chúng. Nhưng đó chỉ là một khoảnh khắc trong giáo huấn của ngài, một cách diễn đạt phát xuất không phải từ thủ pháp văn chương, mà từ ý thức sâu sắc của ngài về tầm quan trọng của Thập giá Chúa Giêsu và về sự cần thiết của quyết định đức tin mà ngài đòi hỏi ở con người. Hơn nữa, thánh Phaolô không bao giờ đồng hóa tội lỗi với Satan. Thật vậy, trước hết ngài nhìn nhận tội lỗi theo đúng bản chất của nó, là một hành vi cá nhân của con người, đồng thời là tình trạng tội lỗi và mù quáng mà Satan tìm cách thực sự đẩy con người vào và giữ họ ở đó.[16] Như thế, ngài phân biệt rõ ràng giữa hai thực tại ấy, giữa Satan và tội lỗi. Vị Tông đồ, khi đối diện với “luật của tội lỗi” mà ngài cảm thấy trong các chi thể mình, trước hết thú nhận sự bất lực của bản thân nếu không có ân sủng,[17] cũng chính là người mạnh mẽ khuyên nhủ chúng ta chống lại Satan,[18] không cho hắn một cơ hội nào,[19] và đạp hắn dưới chân mình.[20] Đối với ngài, Satan là một nhân vật có tầm quan trọng, là “ác thần của đời này”,[21] một kẻ thù luôn rình rập, khác biệt với chính chúng ta cũng như với tội lỗi mà hắn xúi giục. Cũng như trong Tin mừng, vị Tông đồ thấy hắn hoạt động trong lịch sử thế giới, trong điều ngài gọi là “mầu nhiệm của sự gian ác”,[22] trong sự vô tín từ chối nhìn nhận Chúa Giêsu,[23] trong sự lệch lạc của việc thờ ngẫu tượng,[24] trong sự cám dỗ đe dọa lòng trung thành của Giáo hội đối với Đức Kitô là Hôn phu của mình,[25] và cuối cùng trong sự nhận hiểu lệch lạc về cánh chung dẫn đến việc tôn thờ con người thay cho Thiên Chúa.[26] Chắc chắn Satan dẫn người ta đến tội lỗi, nhưng hắn vẫn khác với chính sự dữ mà hắn gây ra.

Về phần sách Khải huyền, rõ ràng trước hết đây là bức tranh hùng vĩ làm nổi bật quyền năng của Đức Kitô Phục sinh nơi các chứng nhân của Tin mừng Người. Sách công bố chiến thắng của Chiên Con đã chịu hiến tế. Tuy nhiên, sẽ là một sai lầm hoàn toàn về bản chất của chiến thắng ấy nếu người ta không nhìn thấy trong đó điểm kết thúc của một cuộc chiến lâu dài, trong đó Satan và các thiên thần của hắn can thiệp qua các quyền lực nhân loại chống đối Chúa Giêsu, trong khi vẫn khác biệt với nhau cũng như khác với các tay sai nhân loại của chúng. Chính sách Khải huyền, bằng việc vén mở ý nghĩa của các tên gọi và những biểu tượng khác nhau của Satan trong Thánh kinh, đã dứt khoát lột mặt nạ căn tính của hắn.[27] Hắn hoạt động trong mọi thế kỷ của lịch sử nhân loại dưới ánh mắt quan phòng của Thiên Chúa.

Vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi trong Tin mừng theo thánh Gioan, Chúa Giêsu nói về ma quỷ và gọi hắn là “thủ lãnh thế gian này”.[28] Dĩ nhiên, ảnh hưởng của hắn đối với con người là ảnh hưởng từ bên trong. Tuy nhiên, không thể xem hình ảnh của hắn chỉ như một sự nhân cách hóa của tội lỗi và cám dỗ. Chắc chắn Chúa Giêsu nhìn nhận rằng phạm tội là trở thành “nô lệ”;[29] nhưng Người không đồng hóa sự nô lệ ấy, cũng như tội lỗi được biểu lộ trong đó, với chính Satan. Ma quỷ chỉ thực thi trên những người tội lỗi một ảnh hưởng thuộc bình diện luân lý; hơn nữa, ảnh hưởng ấy còn tùy thuộc vào mức độ mà mỗi người đón nhận những gợi hứng của hắn.[30] Nếu người ta thực hiện những ước muốn của hắn[31] và làm “công việc của hắn”,[32] thì họ làm điều đó cách tự do. Chỉ theo nghĩa ấy và trong giới hạn ấy mà Satan là “cha” của họ.[33] Giữa hắn và lương tâm con người luôn tồn tại một khoảng cách thiêng liêng phân cách “sự dối trá” của hắn với sự ưng thuận mà chúng ta có thể cho đi hoặc từ chối,[34] cũng như giữa Đức Kitô và chúng ta luôn có một khoảng cách được đặt ra bởi “sự thật” mà Người mạc khải và đề nghị, và chúng ta phải đón nhận bằng đức tin.

Đó là lý do tại sao các Giáo phụ, vốn xác tín từ Thánh kinh rằng Satan và ma quỷ là những kẻ thù của công trình Cứu chuộc, đã không ngừng nhắc nhở các tín hữu về sự hiện hữu và hoạt động của chúng.

Giáo huấn chung

Ngay từ thế kỷ II, thánh Melitô thành Sardis đã viết một tác phẩm Về Ma quỷ[35], và thật khó tìm được một Giáo phụ nào hoàn toàn im lặng về chủ đề này. Như có thể dự đoán, những vị giải thích cách chuyên cần nhất về hoạt động của ma quỷ chính là những vị trình bày chương trình cứu độ của Thiên Chúa trong lịch sử, đặc biệt là thánh Irênê và Tertullianô, những người lần lượt chống lại thuyết nhị nguyên Ngộ đạo và thuyết của Marciôn. Sau đó là Victorinô thành Pettau, và cuối cùng là thánh Augustinô. Thánh Irênê dạy rằng ma quỷ là một “thiên thần phản loạn”,[36] kẻ mà Đức Kitô, khi quy tụ mọi sự trong chính mình và tiếp tục cuộc chiến mà kẻ thù này đã phát động chống lại chúng ta, phải đối đầu ngay từ lúc khởi đầu sứ vụ của Người.[37] Theo một cách bao quát và mạnh mẽ hơn, thánh Augustinô cho thấy ma quỷ hoạt động trong cuộc chiến giữa “hai thành phố”, vốn khởi nguồn từ trời cao vào thời điểm những thụ tạo đầu tiên của Thiên Chúa là các thiên thần tuyên bố trung thành hoặc bất trung với Chúa của mình.[38] Trong cộng đồng những người tội lỗi, ngài nhìn thấy một “thân thể” mầu nhiệm của ma quỷ,[39] và ý tưởng này sau đó lại xuất hiện trong tác phẩm Moralia in Job (Luân lý trong sách Gióp) của thánh Grêgôriô Cả.[40]

Đa số các Giáo phụ, cùng với Origenê, từ bỏ quan niệm cho rằng các thiên thần sa ngã đã phạm tội xác thịt, nhận định rằng nguyên nhân sự sa ngã của họ nằm ở tính kiêu ngạo – ước muốn vượt lên trên thân phận của mình, khẳng định sự độc lập và muốn trở nên như Thiên Chúa. Nhưng bên cạnh sự kiêu ngạo ấy, nhiều Giáo phụ còn nhấn mạnh ác ý của các thiên thần sa ngã đối với con người. Đối với thánh Irênê, sự phản loạn của ma quỷ bắt đầu khi hắn ghen tị với thụ tạo mới của Thiên Chúa và tìm cách khiến con người cũng nổi loạn chống lại Đấng Tạo Hóa của mình.[41] Theo Tertullianô, Satan đã sử dụng các huyền nhiệm ngoại giáo để bắt chước các Bí tích do Đức Kitô thiết lập, nhằm cản trở chương trình của Chúa.[42] Vì thế, giáo huấn của các Giáo phụ về căn bản đã phản ánh một cách trung thành và xác thực giáo lý cũng như những chỉ dẫn của Tân ước.

Công đồng Lateranô IV (1215)

Đúng là trong suốt hai mươi thế kỷ lịch sử, Huấn quyền chỉ đưa ra một số ít tuyên bố mang tính tín điều nghiêm ngặt về ma quỷ luận. Lý do là vì hoàn cảnh đòi hỏi điều đó chỉ xảy ra rất hiếm; thực tế chỉ có hai lần. Trong đó, quan trọng hơn cả là vào đầu thế kỷ XIII, khi thuyết nhị nguyên của phái Mani và Priscillianô tái xuất hiện qua phong trào Cathari hay Albigensê. Tuy nhiên, tuyên bố tín lý thời đó, được trình bày trong một khuôn khổ giáo lý quen thuộc, lại tương ứng khá sát với những mối quan tâm của chúng ta ngày nay, vì nó đề cập đến vũ trụ và công trình sáng tạo của Thiên Chúa:

“Chúng tôi vững vàng tin và đơn sơ tuyên xưng… chỉ có một nguyên lý duy nhất của vũ trụ, là Đấng Tạo Hóa của muôn vật hữu hình và vô hình, thiêng liêng và vật chất; Đấng bằng quyền năng toàn năng của mình, từ khởi nguyên Người đã dựng nên từ hư vô mọi loài thụ tạo, cả thiêng liêng lẫn vật chất, tức là các thiên thần và thế giới, rồi đến con người, là hữu thể theo một cách nào đó thuộc về cả hai thực tại ấy, vì được cấu thành bởi linh hồn và thân xác. Ma quỷ và các ác thần khác đã được Thiên Chúa tạo dựng tốt lành theo bản tính, nhưng chính chúng đã tự làm mình trở nên xấu xa. Còn con người thì đã phạm tội theo sự xúi giục của ma quỷ”.[43]

Điều đáng chú ý là sự giản dị và chừng mực của bản trình bày này. Liên quan đến ma quỷ và các ác thần, Công đồng chỉ khẳng định rằng vì chúng là thụ tạo của một Thiên Chúa duy nhất nên chúng không thật sự xấu xa, nhưng đã trở nên xấu xa do chính ý muốn tự do của chúng. Công đồng không đề cập đến số lượng của chúng, tội lỗi của chúng hay mức độ quyền lực của chúng. Những vấn đề ấy, vì không liên quan trực tiếp đến vấn đề tín điều đang được bàn đến, được để ngỏ cho các trường phái thần học thảo luận. Tuy nhiên, khẳng định của Công đồng dù ngắn gọn nhưng vẫn có tầm quan trọng hàng đầu. Nó phát xuất từ một trong những Công đồng quan trọng nhất của thế kỷ XIII và giữ một vị trí nổi bật trong bản Tuyên xưng Đức tin của Công đồng. Bản tuyên xưng này, trước đó không lâu, đã được chuẩn bị về mặt lịch sử thông qua những bản tuyên xưng áp đặt lên phái Cathari và Waldensê,[44] đồng thời quy chiếu đến những lời lên án được đưa ra chống lại phái Priscillianô nhiều thế kỷ trước.[45] Vì thế, nó xứng đáng được nghiên cứu cẩn thận.

Bản Tuyên xưng sử dụng cấu trúc quen thuộc của các Kinh Tin Kính tín lý và dễ dàng hòa nhập vào chuỗi các tín điều đã được hình thành từ thời Công đồng Nicêa. Như đã trích dẫn ở trên, xét theo góc độ của chúng ta, bản văn có thể được tóm lược thành hai chủ đề liên kết với nhau; mỗi chủ đề đều có cùng tầm quan trọng đối với đức tin. Thực vậy, khẳng định về ma quỷ, điều mà chúng ta cần đặc biệt chú ý, được đặt ngay sau lời tuyên xưng về Thiên Chúa là Đấng tạo dựng mọi sự “hữu hình và vô hình”, nghĩa là các hữu thể vật chất và các hữu thể thiêng liêng.

Tuyên bố về Đấng Tạo Hóa và cách diễn tả tuyên bố ấy đặc biệt quan trọng trong bối cảnh này. Nó có nguồn gốc rất xa xưa, bắt rễ từ chính giáo huấn của thánh Phaolô. Khi tôn vinh Đức Kitô Phục sinh, vị Tông đồ khẳng định rằng Người thống trị mọi loài “cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ,”[46] “trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai.”[47] Sau đó, khi nói về sự hiện hữu từ trước muôn đời của Đức Kitô, thánh Phaolô dạy rằng chính Người đã tạo dựng muôn vật “trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình.”[48] Giáo lý về công trình sáng tạo nhanh chóng trở thành một yếu tố quan trọng của đức tin Kitô giáo, bởi vì thuyết Ngộ đạo và thuyết Marciôn đã sớm tìm cách làm lung lay giáo lý này, cũng như sau đó là thuyết Mani và thuyết Priscillianô. Vì vậy, các tín điều đầu tiên luôn xác quyết rằng mọi “hữu thể hữu hình và vô hình” đều được Thiên Chúa tạo dựng. Khẳng định này được Công đồng Nicêa-Constantinôpoli,[49] rồi Công đồng Toledo[50] tuyên bố; đồng thời, nó cũng xuất hiện trong các bản Tuyên xưng Đức tin được các Giáo hội lớn sử dụng trong cử hành Bí tích Thánh tẩy.[51] Nó cũng được đưa vào Kinh nguyện Thánh Thể của thánh Giacôbê tại Giêrusalem,[52] của thánh Basiliô tại Tiểu Á và Alexandria,[53] cũng như trong các phụng vụ của nhiều Giáo hội Đông phương khác.[54] Trong số các Giáo phụ Hy Lạp, công thức này xuất hiện từ thời thánh Irênê[55] và trong tác phẩm Expositio Fidei của thánh Athanasiô.[56] Tại phương Tây, người ta gặp nó ở Grêgôriô thành Elvira,[57] thánh Augustinô,[58] thánh Fulgentiô,[59] và nhiều vị khác.

Vào thời điểm những người Cathari ở phương Tây, theo gương phái Bogomil ở Đông Âu, đang phục hồi thuyết nhị nguyên của phái Mani, bản Tuyên xưng Đức tin của Công đồng Lateranô IV không thể làm gì thích hợp hơn là tái khẳng định tuyên bố và công thức truyền thống này, vốn từ đó trở nên có tầm quan trọng quyết định. Thật vậy, chỉ một thời gian ngắn sau đó, chúng được lặp lại trong các bản Tuyên xưng Đức tin của Công đồng Lyon II,[60] Công đồng Firenze,[61] Công đồng Trentô,[62] và cuối cùng xuất hiện trong Hiến chế Dei Filius của Công đồng Vatican I,[63] với cùng những điều khoản như Công đồng Lateranô IV năm 1215. Như thế, rõ ràng ở đây chúng ta có một khẳng định cổ xưa và nhất quán của đức tin, điều mà Công đồng này đã được Thiên Chúa quan phòng thúc đẩy nhấn mạnh để liên kết với tuyên bố của mình về Satan và ma quỷ. Chính bằng cách đó, Công đồng cho thấy rằng vấn đề ma quỷ, vốn đã quan trọng tự thân, còn thuộc về một bối cảnh rộng lớn hơn được cấu thành bởi giáo lý về việc Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ và giáo lý về niềm tin vào các hữu thể thiêng liêng.

Công đồng về Ma quỷ

1. Bản văn

Về phần tuyên bố này liên quan đến ma quỷ, không thể nói rằng nó được trình bày như một điều mới mẻ được thêm vào nhân dịp ấy, theo kiểu một hệ luận tín lý hay một suy diễn thần học. Trái lại, nó xuất hiện như một điểm xác quyết đã được tiếp nhận từ rất lâu trước đó. Chính cách diễn đạt của bản văn đã cho thấy điều này. Thật vậy, sau khi khẳng định việc Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ, văn kiện không chuyển sang nói về ma quỷ và các ác thần như một kết luận được suy ra một cách lôgíc. Văn kiện không viết: “Vì thế, Satan và ma quỷ đã được tạo dựng vốn dĩ tốt lành…”, như đáng lẽ phải viết nếu đây là một tuyên bố mới được rút ra từ mệnh đề trước đó. Trái lại, văn kiện trình bày trường hợp của Satan như một minh chứng cho khẳng định vừa nêu, đồng thời cũng như một lập luận chống lại thuyết nhị nguyên. Thực tế, văn kiện viết: “ Satan và ma quỷ đã được tạo dựng vốn dĩ tốt lành…”. Nói cách khác, các phát biểu liên quan đến Satan và ma quỷ được trình bày như một xác tín không hề bị tranh cãi trong ý thức Kitô giáo. Đây là điểm then chốt của văn kiện. Và điều đó không thể khác được nếu người ta lưu tâm đến bối cảnh lịch sử.

2. Sự chuẩn bị: các công thức khẳng định và phủ định (thế kỷ IV-V)

Ngay từ thế kỷ IV, Giáo hội đã xác định lập trường chống lại học thuyết Mani về hai nguyên lý vĩnh cửu và đối nghịch nhau.[64] Cả ở Đông phương lẫn Tây phương, Giáo hội kiên quyết dạy rằng Satan và ma quỷ đều được tạo dựng và được làm nên tốt lành theo bản tính. Thánh Grêgôriô Nazianzênô nói với những người mới lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy: “Hãy tin rằng không có bất cứ bản thể nào của sự dữ, cũng không có bất cứ vương quốc (sự dữ) nào không có khởi đầu, hoặc tự tồn tại nơi chính mình, hoặc được Thiên Chúa tạo dựng”.[65] Ma quỷ được nhìn nhận là một thụ tạo của Thiên Chúa, lúc ban đầu tốt lành và đầy vẻ đẹp, nhưng đáng tiếc đã không ở lại trong chân lý mà nó đã được đặt nền tảng (x. Ga 8,44), trái lại đã nổi loạn chống lại Chúa.[66] Vì thế, sự dữ không nằm trong bản tính của nó, nhưng trong một hành vi tự do và tuỳ ý của ý chí nó.[67] Những khẳng định như thế – vốn cũng được tìm thấy trong tác phẩm của thánh Basiliô,[68] thánh Grêgôriô Nazianzênô,[69] thánh Gioan Kim Khẩu[70] và Điđymô thành Alexandria[71] ở Đông phương; cũng như trong tác phẩm của Tertullianô,[72] Eusêbiô thành Vercelli,[73] thánh Ambrôsiô[74] và thánh Augustinô[75] ở Tây phương – đôi khi còn mang hình thức tín lý rõ ràng. Chúng xuất hiện khi thì dưới dạng các bản kết án giáo thuyết, khi thì dưới hình thức các bản tuyên xưng đức tin.

Tác phẩm De Trinitate, được cho là của Eusêbiô thành Vercelli, diễn tả mạnh mẽ niềm tin này qua một loạt các lời nguyền rủa liên tiếp:

“Nếu ai tuyên xưng rằng thiên thần phản loạn, trong bản tính mà nó đã được tạo dựng, không phải là công trình của Thiên Chúa, nhưng tự mình hiện hữu, đến mức quy cho nó một khởi nguyên riêng, thì người ấy đáng nguyền rủa.”

“Nếu ai tuyên xưng rằng thiên thần phản loạn đã được Thiên Chúa tạo dựng với bản tính xấu xa, và không nói rằng chính nó đã tự ý muốn điều ác và tự mình phát sinh điều ác ấy, thì người ấy đáng nguyền rủa.”

“Nếu ai tuyên xưng rằng thiên thần của Satan đã tạo dựng thế giới, xin cho niềm tin ấy ở thật xa chúng ta, và không tuyên bố rằng mọi tội lỗi đều là sáng kiến của hắn, thì người ấy đáng nguyền rủa.”[76]

Việc trình bày dưới hình thức các lời nguyền rủa như thế không phải là trường hợp cá biệt trong thời đó. Người ta còn gặp lại hình thức này trong Commonitorium, được cho là của thánh Augustinô và được chuẩn bị cho nghi thức từ bỏ lạc giáo của những người theo phái Mani. Bản huấn thị này gắn một lời nguyền rủa với “kẻ tin rằng có hai bản tính phát xuất từ hai nguyên lý khác nhau: một nguyên lý tốt lành là Thiên Chúa, và một nguyên lý xấu xa không do Người tạo dựng”.[77]

Tuy nhiên, giáo huấn này thường được diễn tả cách trực tiếp và tích cực hơn dưới hình thức một chân lý phải tin. Ngay đầu tác phẩm De Genesi ad Litteram, thánh Augustinô viết:

“Giáo huấn Công giáo truyền dạy chúng ta phải tin rằng Ba Ngôi là một Thiên Chúa duy nhất, Đấng đã làm nên và tạo dựng mọi hữu thể hiện hữu, trong mức độ chúng tồn tại; đến nỗi mọi thụ tạo, dù là thiêng liêng hay vật chất, hoặc nói ngắn gọn hơn theo ngôn ngữ của Thánh kinh, dù là vô hình hay hữu hình, đều không thuộc bản tính thần linh nhưng đã được Thiên Chúa tạo dựng từ hư vô”.[78]

Tại Tây Ban Nha, Công đồng Toledo I cũng tuyên xưng rằng Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa của “mọi hữu thể hữu hình và vô hình”, và ngoài Người ra: “không tồn tại bất cứ bản tính thần linh, thiên thần hay thiêng liêng nào, cũng không có bất cứ quyền năng nào có thể được coi là Thiên Chúa”.[79]

Như vậy, từ thế kỷ IV trở đi, việc diễn tả đức tin Kitô giáo, được giảng dạy và sống trong Giáo hội, đã đi kèm với hai công thức tín lý về điểm này: một công thức khẳng định và một công thức phủ định. Chính hai công thức ấy sẽ lại xuất hiện tám thế kỷ sau, vào thời Đức Giáo hoàng Innocentê III và Công đồng Lateranô IV.

Thánh Giáo hoàng Lêô Cả

Trong khi đó, những cách diễn đạt tín lý này không hề bị lãng quên. Thật vậy, vào thế kỷ V, bức thư của Thánh Giáo hoàng Lêô Cả gửi Turibiô, Giám mục Astorga – mà tính xác thực ngày nay không còn bị nghi ngờ nữa – đã sử dụng cùng một giọng điệu và cùng một sự minh bạch như vậy. Trong số những sai lầm của phái Priscillianô mà ngài lên án, có điểm sau đây:

“Ghi chú thứ sáu[80] nói rằng họ khẳng định ma quỷ chưa bao giờ là tốt lành và bản tính của nó không phải là công trình của Thiên Chúa. Trái lại, họ cho rằng nó phát xuất từ hỗn mang và bóng tối, thực sự không có tác giả tạo thành hữu thể của mình, nhưng chính nó là nguyên lý và bản thể của mọi sự dữ. Mặt khác, đức tin chân thật, tức đức tin Công giáo, tuyên xưng rằng bản chất của mọi thụ tạo, cả thiêng liêng lẫn vật chất, đều là tốt lành, và sự dữ không phải là một bản tính, bởi vì Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa của vũ trụ, chỉ tạo dựng những gì tốt lành. Vì thế, chính ma quỷ cũng sẽ là tốt lành nếu nó vẫn ở trong tình trạng mà nó đã được tạo dựng. Nhưng đáng tiếc thay, vì đã lạm dụng sự cao quý tự nhiên của mình và không ở lại trong chân lý (Ga 8,44), nó đã không bị biến đổi (chắc chắn) thành một bản thể đối nghịch, mà đã tự tách mình khỏi thiện hảo tối thượng mà nó đáng lẽ phải gắn bó…”.[81]

Tuyên bố tín lý mà chúng ta vừa đọc (từ những lời “Đức tin chân thật… đức tin Công giáo tuyên xưng…” cho đến hết đoạn) đã được coi là quan trọng đến mức nó lại xuất hiện nguyên văn trong số các phần bổ sung được thêm vào tác phẩm Liber de Dogmatibus Ecclesiasticis (Sách các Tín điều Giáo hội), vốn được quy cho Gennadiô thành Marseille, vào thế kỷ VI.[82] Sau cùng, cùng một giọng điệu huấn quyền ấy lại vang lên để bảo vệ giáo huấn tương tự trong tác phẩm Regula Fidei ad Petrum (Quy luật Đức tin gửi Phêrô) của thánh Fulgentiô. Tại đây người ta thấy được khẳng định sự cần thiết phải “giữ vững trên hết” và “giữ cách hết sức kiên quyết” rằng mọi thực tại không phải là Thiên Chúa đều là thụ tạo của Thiên Chúa, và điều đó đúng đối với mọi hữu thể “hữu hình và vô hình”; rằng “một số thiên thần đã lầm lạc và tự ý lìa xa Đấng Tạo Hóa của mình”; và rằng “sự dữ không phải là một bản tính”.[83]

Do đó, không có gì đáng ngạc nhiên khi trong một bối cảnh lịch sử tương tự, bộ sưu tập giáo luật thế kỷ V mang tênStatuta Ecclesiae Antiqua (Các Quy định Cổ xưa của Giáo hội) đã đưa vào số những câu hỏi dùng để khảo sát đức tin Công giáo của các ứng viên chức giám mục câu hỏi sau đây: “Liệu ma quỷ là xấu xa do bản tính, hay nó đã trở nên như vậy do ý chí tự do?”[84] Công thức này sẽ xuất hiện trở lại trong các bản tuyên xưng đức tin mà Đức Giáo hoàng Innocentê III buộc những người Waldensê phải tuyên xưng.[85]

Công đồng Braga I (thế kỷ VI)

Như vậy, giáo lý này đã được chấp nhận rộng rãi và được thiết lập vững chắc. Nhiều văn kiện diễn tả giáo lý ấy, trong đó chúng ta chỉ mới nhắc đến những văn kiện quan trọng nhất, đã tạo nên bối cảnh tín lý để Công đồng Braga I dựa vào giữa thế kỷ VI. Được chuẩn bị và nâng đỡ bởi toàn bộ truyền thống ấy, điều khoản 7 của Công đồng này không xuất hiện như một bản văn đơn lẻ, nhưng đúng hơn là một sự tổng hợp giáo huấn của thế kỷ IV và V về vấn đề này, đặc biệt là giáo lý do thánh Giáo hoàng Lêô Cả giảng dạy:

“Nếu ai tin rằng ma quỷ ban đầu không phải là một thiên thần (tốt lành) được Thiên Chúa tạo dựng, và rằng bản tính của nó không phải là công trình của Thiên Chúa; hoặc nếu người ấy cho rằng nó phát xuất từ hỗn mang và bóng tối, không có tác giả tạo thành hữu thể của mình, nhưng chính nó là nguyên lý và bản thể của sự dữ, như Mani và Priscillianô đã dạy, thì người ấy phải bị vạ tuyệt thông”.[86]

3. Sự xuất hiện của phái Cathari (thế kỷ XII-XIII)

Tình trạng của ma quỷ như một thụ tạo và hành vi tự do khiến nó trở nên băng hoại đã từ lâu là một phần của đức tin minh nhiên của Giáo hội. Vì thế, Công đồng Lateranô IV không cần phải đưa ra những chứng cứ tư liệu để chứng minh các chân lý ấy, nhưng chỉ cần đưa chúng vào bản Tuyên xưng Đức tin như những tín điều đã được tuyên xưng một cách rõ ràng. Việc đưa các chân lý ấy vào bản Tuyên xưng, vốn từ lâu đã có thể thực hiện được về phương diện tín lý, nay đã trở thành điều cần thiết, vì lạc giáo Cathari đã tiếp nhận một số sai lầm cũ của thuyết Mani. Vào cuối thế kỷ XII và đầu thế kỷ XIII, nhiều bản tuyên xưng đức tin đã khẩn thiết tái khẳng định rằng Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa các hữu thể “hữu hình và vô hình”, rằng Người là tác giả của cả hai Giao ước, đồng thời xác định rằng ma quỷ không hề xấu xa do bản tính nhưng do chính sự lựa chọn của nó.[87] Những lập trường nhị nguyên cổ xưa, được thể hiện trong các phong trào rộng lớn về giáo lý và linh đạo, vào thời đó thực sự là một mối nguy đối với đức tin, cả ở miền Nam nước Pháp lẫn miền Bắc nước Ý.

Tại Pháp, Ermengaud xứ Béziers đã phải viết một khảo luận chống lại những người lạc giáo, “những kẻ nói và tin rằng thế giới hiện tại và mọi hữu thể hữu hình không phải do Thiên Chúa tạo dựng, mà do ma quỷ tạo dựng.” Theo họ, sẽ tồn tại hai vị thần: một vị thần tốt lành và toàn năng, và một vị thần xấu xa, tức là ma quỷ.[88] Tại miền Bắc nước Ý, Bonacursus, một người cải đạo từ phái Cathari, cũng đã lên tiếng cảnh báo và mô tả các trường phái khác nhau của giáo phái này.[89] Ít lâu sau sự can thiệp của ông, tác phẩm Summa Contra Haereticos (Tổng luận Chống Lạc giáo), vốn từ lâu được cho là của Prepositinus xứ Cremona, giúp chúng ta hiểu rõ hơn ảnh hưởng của lạc giáo nhị nguyên đối với nền thần học đương thời. Tác phẩm mở đầu bằng việc mô tả các tín điều của phái Cathari như sau:

“Thiên Chúa toàn năng chỉ tạo dựng các hữu thể vô hình và phi vật chất. Còn đối với ma quỷ, kẻ mà người lạc giáo này gọi là thần của bóng tối, chính nó đã tạo dựng các hữu thể hữu hình và vật chất. Nói như vậy, người lạc giáo còn thêm rằng có hai nguyên lý của mọi sự: nguyên lý của điều thiện là Thiên Chúa toàn năng, và nguyên lý của điều ác là ma quỷ. Họ cũng thêm rằng có hai bản tính: một bản tính tốt lành, tức bản tính của các hữu thể phi vật chất, được Thiên Chúa toàn năng tạo dựng; và một bản tính xấu xa, tức bản tính của các hữu thể vật chất, được ma quỷ tạo dựng. Người lạc giáo phát biểu như thế trước đây được gọi là người theo thuyết Mani; ngày nay được gọi là những người Cathari”.[90]

Tầm quan trọng của Công đồng Lateranô IV

Mặc dù ngắn gọn, bản tóm lược này lại rất đáng chú ý vì sự phong phú của nội dung tư tưởng. Ngày nay, chúng ta có thể bổ sung thêm bằng cách tham chiếu đến tác phẩm Liber de duobus principiis (Sách về Hai Nguyên tắc), do một nhà thần học thuộc phái Cathari biên soạn không lâu sau Công đồng Lateranô IV.[91] Cuốn sách nhỏ này, được các thành viên tích cực của giáo phái sử dụng, trình bày chi tiết các lập luận và dựa vào Thánh kinh để bác bỏ giáo lý về một Đấng Tạo Hóa duy nhất, đồng thời tìm cách chứng minh, bằng các bản văn Thánh kinh, sự hiện hữu của hai nguyên lý đối nghịch nhau.[92] Theo tác phẩm ấy, bên cạnh Thiên Chúa tốt lành: “chúng ta nhất thiết phải nhìn nhận sự hiện hữu của một nguyên lý khác, đó là nguyên lý của sự dữ, đang hoạt động một cách tai hại chống lại Thiên Chúa chân thật và chống lại thụ tạo của Người”.[93]

Vào đầu thế kỷ XIII, những khẳng định này hoàn toàn không chỉ là các lý thuyết của một số trí thức cực đoan. Chúng tương ứng với cả một hệ thống niềm tin sai lạc đang được sống và truyền bá bởi một mạng lưới rộng lớn gồm các nhóm có tổ chức và hoạt động tích cực. Giáo hội có bổn phận phải can thiệp bằng cách tái khẳng định mạnh mẽ các tuyên bố tín lý của những thế kỷ trước. Đó chính là điều Đức Giáo hoàng Innocentê III đã thực hiện khi đưa hai tuyên bố tín lý nói trên vào bản Tuyên xưng Đức tin của Công đồng Lateranô IV. Bản Tuyên xưng Đức tin này được công bố chính thức trước các Giám mục và được các ngài chấp thuận. Các ngài được hỏi lớn tiếng: “Anh em có tin tất cả những điều này không?” và các ngài đã đồng thanh đáp lại: “Chúng tôi tin”.[94] Vì thế, toàn bộ văn kiện của Công đồng là một văn kiện đức tin. Và xét theo bản chất cũng như hình thức của nó, vốn là hình thức của một Kinh Tin Kính, mỗi điểm chính trong đó đều có cùng một giá trị tín lý.

Thật vậy, sẽ là một sai lầm rõ ràng nếu cho rằng mỗi đoạn trong Kinh Tin Kính chỉ chứa đựng một khẳng định tín lý duy nhất. Điều đó có nghĩa là áp dụng vào việc giải thích một Kinh Tin Kính một phương pháp chú giải chỉ thích hợp, chẳng hạn, đối với các sắc lệnh của Công đồng Trentô, trong đó mỗi chương theo quy luật chỉ trình bày một chủ đề tín lý duy nhất: như sự cần thiết phải chuẩn bị cho việc được công chính hóa,[95] hay chân lý về sự hiện diện đích thực của Đức Kitô trong Bí tích Thánh Thể,[96]v.v. Ngược lại, đoạn đầu tiên của Công đồng Lateranô IV lại cô đọng trong số dòng tương đương với chương của Công đồng Trentô về “ơn bền đỗ”[97] cả một loạt các khẳng định đức tin, phần lớn đã được xác định từ trước, liên quan đến tính duy nhất của Thiên Chúa, Ba Ngôi và sự bình đẳng giữa các Ngôi vị, tính đơn nhất của bản tính Thiên Chúa và các nhiệm xuất của Chúa Con cũng như Chúa Thánh Thần. Cách trình bày tương tự cũng được áp dụng cho giáo lý về công trình sáng tạo, đặc biệt trong hai đoạn văn đang được bàn tới liên quan đến mọi hữu thể thiêng liêng và vật chất do Thiên Chúa tạo dựng, cũng như việc tạo dựng ma quỷ và tội lỗi của nó. Như chúng ta đã thấy, tất cả những điểm này đều thuộc về giáo huấn của Giáo hội từ thế kỷ IV và thế kỷ V. Khi đưa chúng vào Kinh Tin Kính của mình, Công đồng chỉ đơn giản xác nhận rằng chúng thuộc về quy luật đức tin phổ quát của Giáo hội.

Sự hiện hữu của thực tại ma quỷ và việc khẳng định quyền lực của nó không chỉ dựa trên những văn kiện chuyên biệt vừa nói, nhưng còn được diễn tả thêm, bằng những cách thức tổng quát hơn và ít mang tính kỹ thuật hơn, trong các tuyên bố của các Công đồng mỗi khi các ngài mô tả thân phận của con người ngoài Đức Kitô.

Giáo huấn chung của các Giáo hoàng và các Công đồng

Vào giữa thế kỷ V, trước thềm Công đồng Chalcedon, Tomuscủa thánh Giáo hoàng Lêô Cả gửi Flavianô đã làm rõ rằng một trong những mục tiêu lớn của chương trình cứu độ là đem lại chiến thắng trước sự chết và ma quỷ, kẻ mà theo thư gửi tín hữu Do Thái, đang nắm quyền thống trị sự chết.[98] Sau đó, khi nói về công trình Cứu chuộc, Công đồng Firenze đã trình bày công trình ấy bằng những thuật ngữ Thánh kinh như một sự giải thoát khỏi quyền thống trị của ma quỷ.[99] Công đồng Trentô, khi tóm lược giáo huấn của thánh Phaolô, tuyên bố rằng con người tội lỗi “ở dưới quyền lực của ma quỷ và sự chết”.[100] Khi cứu độ chúng ta, Thiên Chúa đã “giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm và chuyển chúng ta vào vương quốc của Người Con yêu dấu của Người; trong Người, chúng ta được cứu chuộc và được tha thứ tội lỗi”.[101] Sau Bí tích Thánh tẩy, phạm tội một lần nữa có nghĩa là “trao mình lại cho quyền lực của ma quỷ”.[102] Đó thực sự là niềm tin cổ xưa và phổ quát của Giáo hội. Ngay từ những thế kỷ đầu tiên, niềm tin ấy đã được chứng thực trong phụng vụ khai tâm Kitô giáo, khi các dự tòng, ngay trước khi lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy, tuyên bố từ bỏ Satan, tuyên xưng đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh và bày tỏ sự gắn bó với Đức Kitô là Đấng Cứu Độ của mình.[103]

Chính vì thế, Công đồng Vatican II, vốn thường quan tâm đến tình trạng hiện tại của Giáo hội hơn là đến công trình sáng tạo, vẫn không quên cảnh báo về hoạt động của Satan và ma quỷ. Một lần nữa, như tại Firenze và Trentô, Công đồng nhắc lại cùng với vị Tông đồ rằng Đức Kitô “giải thoát chúng ta khỏi quyền lực bóng tối”.[104] Tóm lược Thánh kinh theo cách của thánh Phaolô và sách Khải huyền, Hiến chế Gaudium et Spes tuyên bố rằng lịch sử của chúng ta, tức lịch sử phổ quát của nhân loại “là một cuộc chiến cam go chống lại các quyền lực bóng tối, một cuộc chiến đã khởi sự từ đầu thế giới và sẽ còn tiếp tục, như Chúa đã nói, cho đến ngày sau hết”.[105] Ở nơi khác, Công đồng Vatican II lặp lại lời khuyên trong thư gửi tín hữu Êphêsô: “hãy mặc lấy toàn bộ binh giáp của Thiên Chúa để có thể chống lại các mưu chước của ma quỷ”.[106] Vì, như chính Hiến chế ấy nhắc nhở người giáo dân: “Chúng ta phải chiến đấu chống lại những thủ lãnh của thế giới tối tăm này, chống lại các thần dữ”.[107] Sau cùng, cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy chính Công đồng ấy, muốn nhấn mạnh rằng Giáo hội thực sự là Nước Thiên Chúa đã khởi sự hiện diện, đã viện dẫn các phép lạ của Chúa Giêsu và vì mục đích đó đã minh nhiên nhắc đến các cuộc trừ quỷ của Người.[108] Chính trong bối cảnh ấy Chúa Giêsu đã tuyên bố câu nói nổi tiếng: “Nước Thiên Chúa đã đến giữa các ông”.[109]

Lập luận Phụng vụ

Về phần phụng vụ, điều mà chúng ta đã nhắc đến thoáng qua trước đây là: phụng vụ mang lại một chứng từ đặc biệt, bởi vì đó là sự diễn tả cụ thể của đức tin được sống. Tuy nhiên, không nên tìm nơi phụng vụ sự thỏa mãn cho tính tò mò của chúng ta về bản tính của ma quỷ, các cấp bậc hay tên gọi của chúng. Phụng vụ chỉ giới hạn ở việc nhấn mạnh sự tồn tại của chúng và mối đe dọa mà chúng gây ra đối với các Kitô hữu. Đó chính là nhiệm vụ của phụng vụ. Được đặt nền trên giáo huấn của Tân ước, phụng vụ trực tiếp vang vọng giáo huấn ấy khi tuyên bố rằng đời sống của người đã lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy là một cuộc chiến đấu, được tiến hành nhờ ân sủng của Đức Kitô và quyền năng của Thánh Thần của Người, chống lại thế gian, xác thịt và các quyền lực ma quỷ.[110]

Phụng vụ được canh tân

Tuy nhiên, ngày nay, lập luận phụng vụ này cần được sử dụng một cách thận trọng. Một mặt, các nghi lễ và sách bí tích của Đông phương, vốn qua nhiều thế kỷ thường chịu nhiều bổ sung hơn là cắt giảm, có nguy cơ dẫn chúng ta đến những kết luận sai lạc. Các hệ thống giáo huấn về ma quỷ trong các nghi lễ ấy được phát triển rất phong phú. Còn đối với các văn kiện phụng vụ Latinh, vốn đã nhiều lần được tu chỉnh trong lịch sử, thì chính những thay đổi đó đòi hỏi chúng ta cũng phải thận trọng tương tự khi rút ra kết luận. Nghi thức sám hối công khai cổ xưa của chúng ta đã diễn tả một cách mạnh mẽ ảnh hưởng của ma quỷ trên các tội nhân. Đáng tiếc thay, những bản văn ấy, dù còn được lưu giữ đến thời chúng ta trong Pontificale Romanum,[111] trên thực tế từ lâu đã không còn được sử dụng. Cho đến năm 1972, người ta vẫn có thể viện dẫn các lời nguyện phó dâng linh hồn. Các lời nguyện này gợi lên nỗi kinh hoàng của hỏa ngục và những cuộc tấn công cuối cùng của ma quỷ.[112] Nhưng nay những đoạn văn quan trọng ấy đã biến mất. Trên hết, trong thời đại chúng ta, thừa tác vụ đặc thù của nhà trừ quỷ, tuy không hoàn toàn bị bãi bỏ, nhưng chỉ còn là một tác vụ rất hiếm khi được thực hiện, và trên thực tế chỉ có thể thi hành khi được giám mục yêu cầu.[113] Hơn nữa, cũng không còn nghi thức nào được quy định cho việc trao ban thừa tác vụ này. Dĩ nhiên, quy định như vậy không có nghĩa là linh mục không còn quyền trừ quỷ, cũng không có nghĩa là ngài không còn phải thực hành quyền ấy. Tuy nhiên, điều đó buộc người ta phải kết luận rằng Giáo hội, khi không còn dành cho thừa tác vụ này một chức năng chuyên biệt, cũng không còn đặt tầm quan trọng vào các nghi thức trừ quỷ như trong những thế kỷ đầu tiên. Sự phát triển này chắc chắn đáng được lưu ý.

Tuy nhiên, chúng ta không nên kết luận rằng trong lĩnh vực phụng vụ đã xảy ra sự suy giảm hoặc thay đổi niềm tin. Sách lễ Rôma năm 1970 vẫn tiếp tục phản ánh niềm tin của Giáo hội về hoạt động của ma quỷ. Ngày nay cũng như trong quá khứ, phụng vụ Chúa nhật I Mùa Chay nhắc nhở các tín hữu về việc Chúa Giêsu đã chiến thắng kẻ cám dỗ như thế nào. Ba trình thuật Nhất Lãm về các cơn cám dỗ đều xuất hiện trong cả ba chu kỳ của bài đọc Mùa Chay (A, B và C). Bản Tiền Tin mừng (Protoevangelium) tiên báo chiến thắng của dòng dõi người phụ nữ trên dòng dõi con rắn (St 3,15) được đọc vào Chúa nhật X Mùa Thường niên năm B và vào thứ Bảy tuần V Mùa Chay. Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời và phần Chung kính Đức Trinh Nữ Maria đều có bài đọc từ sách Khải huyền (12,1-6), mô tả mối đe dọa của con rồng đối với người phụ nữ đang sinh con. Máccô 3,20-35, thuật lại cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và những người Pharisêu về Bêendêbun, nằm trong các bài đọc Chúa nhật X Mùa Thường niên năm B vừa được nhắc đến. Dụ ngôn cỏ lùng và lúa tốt (Mt 13,36-46) được đọc vào thứ Ba tuần XIII Mùa Thường niên. Lời công bố về sự thất bại của thủ lãnh thế gian này (Ga12,20-33) được đọc vào Chúa nhật V Mùa Chay năm B, còn Gioan 14,30 được đọc trong tuần. Trong các bản văn tông đồ, Êphêxô 2,1-10 được chỉ định cho thứ Hai tuần XXIX Mùa Thường niên; Êphêxô 6,10-20 cho phần Chung các Thánh và cũng được đọc vào thứ Năm tuần XIII Mùa Thường niên. Thư thứ nhất của thánh Gioan 3,7-10 được đọc ngày 4 tháng Giêng, còn trong lễ thánh Máccô có bài đọc từ thư thứ nhất của thánh Phêrô mô tả ma quỷ như kẻ đang rảo quanh tìm mồi để cắn xé. Danh sách các tham chiếu này, dù chưa đầy đủ, cũng đủ chứng thực rằng những đoạn văn quan trọng nhất vẫn thuộc về các bài đọc chính thức của Giáo hội.

Đúng là nghi thức khai tâm Kitô giáo dành cho người trưởng thành đã được sửa đổi ở điểm này. Nghi thức không còn trực tiếp ngỏ lời với ma quỷ bằng những lời truyền lệnh nữa. Nhưng cũng vì thế mà nghi thức hướng về Thiên Chúa dưới hình thức các lời cầu nguyện.[114] Giọng điệu có thể ít kịch tính hơn, nhưng vẫn diễn tả cùng một nội dung và có hiệu quả tương đương. Vì vậy, thật sai lầm khi nói rằng các nghi thức trừ quỷ đã bị loại bỏ khỏi nghi thức Thánh tẩy mới. Thực vậy, mức độ sai lầm ấy càng rõ hơn khi người ta biết rằng nghi thức dự tòng mới đã thiết lập, trước các nghi thức trừ quỷ thông thường gọi là “trừ quỷ trọng thể”, một loạt các nghi thức “trừ quỷ đơn giản” được phân bố suốt thời gian dự tòng, điều mà trước đây chưa hề có.[115] Như vậy, các nghi thức trừ quỷ vẫn còn hiện diện. Hôm nay cũng như hôm qua, chúng đều nhằm tìm kiếm chiến thắng trên Satan, ma quỷ, thủ lãnh thế gian này, quyền lực bóng tối. Và ba cuộc “khảo hạch” truyền thống, trong đó các nghi thức trừ quỷ vẫn giữ vị trí như trước, vẫn mang cùng những mục đích tiêu cực và tích cực như xưa, nghĩa là vừa “giải thoát khỏi tội lỗi và ma quỷ”, vừa “củng cố trong Đức Kitô”.[116] Nghi thức cử hành Bí tích Thánh tẩy cho trẻ nhỏ vẫn giữ một lời trừ quỷ, bất chấp những gì người ta có thể nói.[117] Điều này hoàn toàn không có nghĩa là Giáo hội xem các trẻ em ấy là bị quỷ ám; nhưng Giáo hội tin rằng chính các em cũng cần đến mọi hiệu quả của công trình cứu chuộc của Đức Kitô. Thật vậy, trước khi lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy, mọi người, dù là trẻ em hay người lớn, đều mang dấu vết tội lỗi và ảnh hưởng của Satan.

Bí tích Hòa giải cá nhân

Về phụng vụ của Bí tích Hòa giải cá nhân, ngày nay phụng vụ ít đề cập đến ma quỷ hơn so với trước đây. Tuy nhiên, các cử hành sám hối cộng đoàn đã phục hồi một lời nguyện cổ xưa, nhắc lại ảnh hưởng của Satan đối với những người tội lỗi.[118] Đối với nghi thức Xức dầu Bệnh nhân, như chúng ta đã thấy, lời nguyện phó dâng linh hồn cho Thiên Chúa không còn nhấn mạnh sự hiện diện đáng sợ của Satan nữa. Nhưng trong chính nghi thức xức dầu, vị chủ sự cầu nguyện để người đau yếu được “giải thoát khỏi tội lỗi và khỏi mọi cơn cám dỗ”.[119] Dầu thánh được xem như một “sự bảo vệ” cho thân xác, linh hồn và thần trí.[120] Lời nguyện “Tôi phó dâng anh/chị”, tuy không nhắc đến hỏa ngục hay ma quỷ, nhưng vẫn gián tiếp quy chiếu đến sự hiện hữu và ảnh hưởng của chúng khi cầu xin Đức Kitô cứu độ người hấp hối và xếp họ vào hàng “những con chiên” và “những người được tuyển chọn” của Người. Rõ ràng, cách diễn đạt ấy nhằm tránh gây một cú sốc tâm lý cho người bệnh và gia đình họ; nhưng nó không hề phủ nhận niềm tin vào mầu nhiệm sự dữ.

Tóm lại, lập trường của Giáo hội về ma quỷ luận là rõ ràng và vững chắc. Đúng là qua các thế kỷ, sự hiện hữu của Satan và ma quỷ chưa bao giờ thực sự trở thành đối tượng của một tuyên bố minh nhiên trong Huấn quyền. Lý do là vì này vấn đề chưa bao giờ được đặt ra theo những thuật ngữ như ngày nay. Cả những người lạc giáo lẫn các tín hữu, khi dựa trên Thánh kinh để bảo vệ lập trường của mình, đều đồng ý rằng Satan và ma quỷ, cũng như những hoạt động chính yếu của chúng, là có thật. Chính vì thế, khi ngày nay người ta đặt nghi vấn về thực tại của ma quỷ, thì điều cần phải viện dẫn chính là niềm tin thường hằng và phổ quát của Giáo hội, cùng với nguồn mạch chính yếu của niềm tin ấy là giáo huấn của Đức Kitô, như chúng ta đã trình bày. Thật vậy, chính trong giáo huấn Tin mừng, và như một yếu tố nằm ở trung tâm đức tin, sự tồn tại của thế giới ma quỷ được trình bày như một dữ kiện thuộc phạm vi tín lý. Vì thế, sự bất an của thời đại chúng ta mà chúng ta đã mô tả lúc đầu không phải là vấn đề liên quan đến một yếu tố phụ thuộc của tư tưởng Kitô giáo; trái lại, nó liên hệ đến chính niềm tin thường hằng của Giáo hội, đến cách Giáo hội hiểu về công trình cứu chuộc, và ở tận nguồn cội, nó còn đi ngược lại chính ý thức của Chúa Giêsu. Đó là lý do tại sao, khi Đức Thánh Cha Phaolô VI gần đây nói về thực tại của Sự Dữ như một “thực tại đáng sợ, huyền nhiệm và kinh hoàng”, ngài đã có thể quả quyết với thẩm quyền rằng: “Ai từ chối nhìn nhận sự hiện hữu của thực tại ấy, hoặc ai biến nó thành một nguyên lý tự hữu không có nguồn gốc nơi Thiên Chúa như mọi thụ tạo khác, hoặc ai giải thích nó như một thực tại giả tạo, một sự nhân cách hóa mang tính khái niệm và tưởng tượng về những nguyên nhân chưa biết của các tai họa chúng ta, thì người ấy đã rời xa sự toàn vẹn của giáo huấn Thánh kinh và giáo huấn của Giáo hội”.[121] Các nhà chú giải Thánh kinh cũng như các nhà thần học không thể bỏ qua lời cảnh báo này.

Vì thế, chúng ta hãy nhắc lại rằng khi ngày nay Giáo hội nhấn mạnh đến sự hiện hữu của thực tại ma quỷ, Giáo hội không hề muốn đưa chúng ta trở lại với những suy đoán nhị nguyên hay thuyết Mani của thời xưa, cũng không muốn đề xuất một sự thay thế nào khác có vẻ hợp lý hơn đối với lý trí con người. Giáo hội chỉ muốn trung thành với Tin mừng và những đòi hỏi của Tin mừng. Cũng cần nói rõ rằng Giáo hội chưa bao giờ cho phép con người trốn tránh trách nhiệm của mình bằng cách đổ lỗi mọi sai phạm cho ma quỷ. Giáo hội đã không ngần ngại chống lại thái độ thoái thác trách nhiệm ấy khi nó xuất hiện, bằng cách lặp lại lời của thánh Gioan Kim Khẩu: “Không phải ma quỷ, nhưng chính sự bất cẩn của con người là nguyên nhân của mọi sa ngã và mọi đau khổ mà họ than phiền”.[122]

Không có sự nhượng bộ nào

Vì lý do đó, giáo huấn Kitô giáo không hề nhân nhượng khi mạnh mẽ bảo vệ tự do và phẩm giá cao cả của con người, đồng thời nhấn mạnh quyền năng vô biên và lòng nhân lành của Đấng Tạo Hóa. Trong quá khứ, Giáo hội đã lên án và sẽ luôn lên án việc quá dễ dàng viện dẫn cơn cám dỗ của ma quỷ như một lời bào chữa. Giáo hội cấm mê tín dị đoan cũng như ma thuật. Giáo hội từ chối nhượng bộ về mặt giáo lý trước thuyết định mệnh và không chấp nhận làm suy giảm tự do con người trước bất kỳ áp lực nào. Hơn thế nữa, khi có những dấu hiệu cho thấy khả năng có sự can thiệp của ma quỷ, Giáo hội luôn đòi phải có sự thẩm định nghiêm túc đối với các sự kiện, cũng như đối với các phép lạ. Thật vậy, sự dè dặt và thận trọng là điều cần thiết. Người ta rất dễ trở thành nạn nhân của trí tưởng tượng, hoặc bị dẫn dắt sai lầm bởi những tường thuật thiếu chính xác, bị bóp méo trong quá trình truyền đạt và bị giải thích sai lệch. Vì thế, trong những trường hợp này cũng như trong các trường hợp khác, cần phải thực hành sự phân định. Đồng thời, phải dành chỗ cho việc nghiên cứu và những kết quả mà nghiên cứu đạt được.

Tuy nhiên, trong sự trung thành với gương mẫu của Đức Kitô, Giáo hội vẫn cho rằng lời khuyên của thánh Tông đồ Phêrô về sự “tiết độ” và tỉnh thức vẫn còn nguyên giá trị.[123] Đúng là trong thời đại chúng ta, điều phải đề phòng là một thứ “cơn say” mới. Nhưng tri thức và sức mạnh kỹ thuật cũng có thể khiến con người say mê. Ngày nay con người tự hào về những khám phá của mình, và nhiều khi điều đó hoàn toàn chính đáng. Nhưng trong trường hợp đang bàn đến, liệu có chắc rằng các phân tích của con người đã làm sáng tỏ mọi hiện tượng đặc trưng cho sự hiện diện của ma quỷ và biểu lộ sự hiện diện ấy hay không? Liệu còn vấn đề nào chưa được giải quyết không? Phải chăng các phân tích thuộc khoa chú giải và việc nghiên cứu các Giáo phụ đã giải đáp mọi khó khăn của tất cả các bản văn? Không có gì kém chắc chắn hơn điều đó. Đúng là trong quá khứ đã từng có một nỗi sợ hãi khá ngây thơ về việc gặp ma quỷ ở mọi ngã rẽ của tư tưởng. Nhưng liệu ngày nay có kém ngây thơ hơn không khi khẳng định rằng các phương pháp của chúng ta chẳng bao lâu nữa sẽ đưa ra lời giải đáp cuối cùng về những chiều sâu của ý thức con người, nơi gặp gỡ của những tương quan huyền nhiệm giữa thân xác và linh hồn, giữa siêu nhiên, ngoại thường và nhân loại, giữa lý trí và mặc khải? Bởi những vấn đề ấy từ lâu vẫn luôn được xem là rộng lớn và phức tạp. Còn các phương pháp hiện đại của chúng ta, cũng như những phương pháp của thời trước, đều có những giới hạn mà chúng không thể vượt qua. Đức khiêm tốn, vốn cũng là một nhân đức của trí tuệ, phải giữ vị trí chính đáng của mình ở đây và nâng đỡ chúng ta trong chân lý. Bởi vì chính nhân đức ấy, trong khi vẫn lưu tâm đến tương lai, ngay từ bây giờ cho phép người Kitô hữu dành chỗ cho những dữ kiện của Mặc khải, tóm lại, cho đức tin.

Chiến thắng sự dữ

Thật vậy, chính đức tin là điều mà thánh Phêrô Tông đồ muốn dẫn chúng ta đến khi ngài khuyên hãy chống lại ma quỷ, “vững vàng trong đức tin”. Đức tin dạy chúng ta rằng thực tại của sự dữ là “một hữu thể thiêng liêng sống động, đã sa đọa và chuyên làm băng hoại”.[124] Đức tin cũng đem lại cho chúng ta niềm tin tưởng khi bảo đảm rằng quyền lực của Satan không thể vượt quá những giới hạn Thiên Chúa đã đặt ra. Đức tin cũng bảo đảm rằng, dù ma quỷ có thể cám dỗ chúng ta, nó không thể cưỡng bách chúng ta ưng thuận. Trên hết, đức tin mở lòng con người ra với cầu nguyện, nơi đức tin tìm thấy chiến thắng và triều thiên của mình. Nhờ đó, đức tin giúp chúng ta chiến thắng sự dữ bằng chính quyền năng của Thiên Chúa.

Dĩ nhiên, vẫn phải nhìn nhận rằng thực tại ma quỷ, được chứng thực một cách cụ thể qua điều chúng ta gọi là mầu nhiệm Sự Dữ, vẫn là một bí ẩn bao quanh đời sống Kitô hữu. Chúng ta hầu như không hiểu rõ hơn các Tông đồ vì sao Chúa lại cho phép điều đó tồn tại, hoặc Người làm thế nào để khiến điều đó phục vụ cho những kế hoạch của Người. Tuy nhiên, có thể chính trong nền văn minh bị ám ảnh bởi chủ nghĩa thế tục, vốn loại trừ mọi chiều kích siêu việt, những sự bùng phát bất ngờ của mầu nhiệm ấy lại mang một ý nghĩa không xa lạ mấy với khả năng hiểu biết của chúng ta. Chúng buộc con người phải nhìn xa hơn và cao hơn những bằng chứng trước mắt. Chính nhờ mối đe dọa khiến chúng ta phải dừng lại suy nghĩ, chúng giúp chúng ta nhận ra rằng có một thực tại vượt bên kia những gì thấy được, một thực tại cần được giải mã. Và rồi chúng hướng chúng ta về với Đức Kitô để lắng nghe từ Người Tin mừng cứu độ, được ban tặng cách nhưng không cho chúng ta.

Tâm Bùi chuyển ngữ từ Vatican.va

Lm. Giuse Lê Công Đức, PSS hiệu đính

___________

[1] Sự cương quyết của Giáo hội đối với mê tín dị đoan đã có lời giải thích từ rất sớm, trong sự nghiêm khắc của Luật Môsê, mặc dù Luật này không chính thức đặt nền tảng trên mối liên hệ giữa mê tín và ma quỷ. Vì thế, Xh 22,18 kết án tử hình đối với các nữ phù thủy mà không cần giải thích. Lv 19,26 và 31 cấm ma thuật, chiêm tinh, cầu hồn và bói toán; Lv 20,27 còn thêm việc gọi hồn. Đnl 18,10-11 tóm kết các điều đó bằng việc cấm những người xem bói, chiêm tinh gia, pháp sư, phù thủy, người dùng bùa chú, những kẻ gọi hồn hoặc cầu hồn và những người hỏi ý người chết. Tại châu Âu thời Trung cổ sơ khai, rất nhiều mê tín ngoại giáo vẫn còn tồn tại, như được chứng thực qua các bài giảng của thánh Xêdarê thành Arles và thánh Êligiô, tác phẩm De Correctione Rusticorum của Martin thành Braga, các bản liệt kê mê tín đương thời (x. PL 89, 810-818) và các sách đền tội. Công đồng Toledo I (DS 205) và Công đồng Braga (DS 459) đều lên án thuật chiêm tinh. Tương tự như vậy là thư của Thánh Giáo hoàng Lêô Cả gửi Turibiô thành Astorga (DS 283). Điều IX của Công đồng Trentô cấm các tác phẩm về thuật xem chỉ tay, cầu hồn, v.v. (DS 1859). Riêng ma thuật và phù thủy đã là đối tượng của rất nhiều sắc chỉ do các Giáo hoàng Innocentê VIII, Lêô X, Adriano VI, Grêgôriô XV và Urbano VIII ban hành, cùng với nhiều quyết nghị của các công đồng địa phương. Về thôi miên và thuyết thông linh, đặc biệt xem thư của Thánh Bộ ngày 4.8.1856 (DS 2823-2825).

[2] De Diabolo Tentatore, Bài giảng II, 1, PG 49, 257-258.

[3] Cv 23,8. Trong bối cảnh các niềm tin Do Thái về các thiên thần và các thần dữ, không có gì buộc người ta phải giới hạn ý nghĩa của từ “thần khí”, được dùng mà không có bổ ngữ, chỉ để chỉ linh hồn người chết. Từ này cũng được dùng để chỉ các thần dữ, tức là ma quỷ. Hơn nữa, đây là quan điểm của hai tác giả Do Thái (G. F. Moore, Judaism in the First Centuries of the Christian Era, quyển I, 1927, tr. 68; M. Simon, Les sectes juives au temps de Jésus, Paris 1960, tr. 25) và một tác giả Tin Lành (R. Meyer, T.W.N.T. VII, tr. 54).

[4] Khi tuyên bố: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Môsê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải để bãi bỏ nhưng để kiện toàn” (Mt 5,17), Chúa Giêsu đã diễn tả một cách rõ ràng sự tôn trọng của Người đối với truyền thống quá khứ. Các câu tiếp theo (19-20) càng củng cố nhận định ấy. Tuy nhiên, việc Người lên án ly dị (Mt 5,31), luật “mắt đền mắt, răng đền răng” (Mt 5,38), v.v., cho thấy nơi Người một sự tự do hoàn toàn hơn là ý định chỉ đơn thuần tóm kết và bổ túc quá khứ. Điều này càng rõ hơn trong việc Người lên án sự câu nệ của những người Pharisêu đối với truyền thống của tiền nhân (x. Mc 7,1-22).

[5] Mt 8,28-34; 12,22-45. Dù hoàn toàn thừa nhận những khác biệt trong ý nghĩa mà mỗi Tin Mừng Nhất Lãm gán cho các cuộc trừ quỷ, vẫn phải nhìn nhận rằng giữa các ngài có sự đồng thuận rất lớn.

[6] Mc 1,12-13.

[7] Mt 5,37; 6,13; x. Jean Carmignac, Recherches sur le “Notre Père”, Paris 1969, tr. 305-319. Đây cũng là cách giải thích chung của các Giáo phụ Hy Lạp và của nhiều Giáo phụ Tây phương (Tertullianô, thánh Ambrôsiô, Cassianô). Tuy nhiên, thánh Augustinô và kinh Libera Nos trong Thánh lễ Latinh của chúng ta lại thiên về cách giải thích phi ngôi vị.

[8] E. Renaudot, Liturgiarum Orientalium Collectio, 2 (tại phần Thánh lễ); H. Denzinger, Ritus Orientalium, 1961, tập II, tr. 436. Đây dường như cũng là cách giải thích được Đức Thánh Cha Phaolô VI áp dụng khi ngài trình bày bài huấn từ “Xin cứu chúng con khỏi sự dữ” trong buổi tiếp kiến chung ngày 15.11.1972, vì bài huấn từ ấy nói về sự dữ như một nguyên lý sống động và có ngôi vị (x. L’Osservatore Romano, bản tiếng Anh, ngày 23.1.1972, tr. 3).

[9] Mt 13,19.

[10] Mt 13,39.

[11] Mt 16,19, được hiểu theo cách này bởi P. Jouon, M.-J. Lagrange, A. Medebielle, D. Buzy, M. Meinertz, E. Trilling, J. Jeremias, v.v. Vì thế thật khó hiểu khi một tác giả ngày nay lại bỏ qua Mt 16,19 mà chỉ xét đến Mt 16,23.

[12] Lc 22,31

[13] Ga 14,30.

[14] Lc 22,53; x. Lc 22,3, đoạn văn mà như người ta nhìn nhận, cho thấy tác giả Tin Mừng hiểu “quyền lực tối tăm” này theo nghĩa của ngôi vị.

[15] Ga 16,11.

[16] Ep 2,1-2; 2 Tx 2,11; 2 Cr 4,4.

[17] Gl 5,17; Rm 7,23-24.

[18] Ep 6,11-16.

[19] Ep 4,27; 1 Cr 7,5.

[20] Rm 16,20.

[21] 2 Cr 4,4.

[22] 2 Tx 2,7.

[23] 2 Cr 4,4; được Đức Thánh Cha Phaolô VI nhắc đến trong bài huấn từ đã dẫn ở trên.

[24] 1 Cr 10,19-20; Rm 1,21-22. Đây thực sự là cách giải thích được Hiến chế Lumen Gentium, số 16, sử dụng: “Nhưng nhiều khi con người, bị Ác Thần lừa dối, đã trở nên hư không trong những suy nghĩ của mình và đã đổi chân lý của Thiên Chúa lấy điều giả dối, phụng thờ thụ tạo hơn là Đấng Tạo Hóa…”.

[25] 2 Cr 11,3.

[26] 2 Tx 2,3-4.9-11.

[27] Kh 12,9.

[28] Ga 12,31; 14,30; 16,11.

[29] Ga 8,34.

[30] Ga 8,38.44.

[31] Ga 8,44.

[32] Ga 8,41.

[33] Ibid

[34] Ga 8,38.44.

[35] J. Quasten, Initiation aux Pères de l’Église, tập I, Paris 1955, tr. 279 (= Patrology, quyển I, tr. 246).

[36] Adversus Haereses, V, XXIV, 3, PG 7, 1188 A.

[37] Adversus Haereses, XXI, 2, PG 7, 1179 C – 1180 A.

[38] De Civitate Dei, quyển XI, IX, PL 41, 323-325.

[39] De Genesi ad Litteram, quyển XI, XXIV, 31, PL 34, 441-442.

[40] PL 76, 694, 705, 722.

[41] Thánh Irênê, Adversus Haereses, IV, XL, 3, PG 7, 113 C.

[42] De Praescriptionibus, chương XL, PL 2, 54; De Ieiuniis, chương XVI, ibid., 977.

[43] “Chúng tôi vững vàng tin và đơn sơ tuyên xưng… chỉ có một nguyên lý duy nhất của toàn thể vũ trụ, là Đấng Tạo Hóa của mọi sự hữu hình và vô hình, thiêng liêng và vật chất. Với quyền lực toàn năng của mình, ngay từ khởi đầu thời gian, Người đã đồng thời dựng nên từ hư vô cả hai loại thụ tạo: thiêng liêng và vật chất, tức là các thiên thần và thế giới; rồi sau đó là con người, như một thụ tạo thuộc về cả hai lãnh vực, vì được cấu thành bởi linh hồn và thân xác. Thật vậy, ma quỷ và các quỷ khác vốn được Thiên Chúa dựng nên tốt lành theo bản tính; nhưng chính chúng đã tự mình trở nên xấu xa. Còn con người thì đã phạm tội do sự xúi giục của ma quỷ…” (C.Oe.D. = Conciliorum Oecumenicorum Decreta, ấn bản I.S.R., Bologna 1973, tr. 230; DS 800).

[44] Theo thứ tự thời gian, trước hết là Bản Tuyên xưng Đức tin của Công đồng Lyon (1179–1181), do Phêrô Valdo tuyên đọc (ấn bản A. Dondaine, Arch. Fr. Pr., 16, 1946, tr. 231-235); tiếp đến là bản tuyên xưng mà Durandus thành Huesca phải tuyên đọc trước Giám mục Tarragona (PL 215, 1510-1513) năm 1203; và cuối cùng là bản tuyên xưng của Bernardus Prim năm 1210 (PL 216, 289-292). DS 790-797 tập hợp các văn kiện này.

[45] Tại Công đồng Braga (560–563) ở Bồ Đào Nha (DS 451-464).

[46] Pl 2,10.

[47] Ep 1,21.

[48] Cl 1,16.

[49] C.Oe.D., tr. 5 và 24; DS 125-150.

[50] DS 188.

[51] Tại Giêrusalem (DS 41), tại đảo Síp (được thánh Epiphaniô thành Salamis ghi lại; DS 44), tại Alexandria (DS 46), tại Antiôkhia (DS 50), tại Armenia (DS 84), v.v.

[52] P.E. (= Prex Eucharistica, ấn bản Hänggi-Pahl, Fribourg 1968, tr. 244).

[53] P.E., tr. 232 và 348.

[54] P.E., tr. 327, 332 và 382.

[55] Adversus Haereses, II, XXX, 6, PG 7, 818 B.

[56] PG 25, 199-200.

[57] De Fide Orthodoxa Contra Arianos: trong các tác phẩm được gán cho thánh Ambrôsiô (PL 17, 549) và cho Phêbađiô (PL 20, 49).

[58] De Genesi ad Litteram Liber Imperfectus, I, 1-2, PL 34, 221.

[59] De Fide Liber Unus, III, 25, PL 65, 683.

[60] Bản Tuyên xưng Đức tin này, do Hoàng đế Micae Palaiologos tuyên đọc, được lưu giữ trong biên bản của Công đồng bởi Hardouin và Mansi. Có thể dễ dàng tìm thấy trong DS 851. Ấn bản C.Oe.D. tại Bologna đã bỏ qua văn bản này mà không nêu lý do. (Tuy nhiên, tại Công đồng Vatican I, vị tường trình viên của Deputatio Fidei đã chính thức viện dẫn bản văn này: Mansi, tập 52, cột 113 B).

[61] Khóa họp IX. Sắc chỉ hiệp nhất với người Cốp (Bulla Unionis Coptorum), C.Oe.D., tr. 571; DS 1333.

[62] DS 1862 (C.Oe.D. không ghi lại bản văn này).

[63] Khóa họp III, Hiến chế Dei Filius, chương 1, C.Oe.D., tr. 805-806; DS 3002.

[64] Mani, người sáng lập giáo phái này, sống vào thế kỷ III. Ngay từ thế kỷ tiếp theo, các Giáo phụ đã bày tỏ sự phản đối với thuyết Manikê. Thánh Epiphaniô dành hẳn một phần trình bày dài về lạc giáo này, kèm theo phần bác bỏ (Haer. 66, PG42, 29-172). Thánh Athanasiô cũng nhiều lần đề cập đến lạc giáo này (Oratio contra Gentes, 2, PG 25, 6 C). Thánh Basiliô soạn một khảo luận ngắn: Quod Deus non sit auctor malorum(PG 31, 330-354). Didymus thành Alexandria là tác giả của tác phẩm Contra Manichaeos (PG 39, 1085-1110). Tại Tây phương, thánh Augustinô, người từng theo thuyết Manikê khi còn trẻ, đã chống lại học thuyết này một cách có hệ thống sau khi trở lại đạo (x. PL 42).

[65] Oratio 40, In Sanctum Baptisma, số 45, PG 36, 424 A.

[66] Các Giáo phụ giải thích Is 14,14 và Ed 28,2 theo nghĩa này, vì trong các đoạn ấy các ngôn sứ lên án lòng kiêu ngạo của các vua ngoại giáo Babylon và Tyrô.

[67] “Đừng nói với tôi rằng sự dữ luôn hiện hữu nơi ma quỷ; lúc khởi đầu nó hoàn toàn không có sự dữ. Sự dữ chỉ là một điều ngẫu phát nơi bản thể của nó, một điều xảy đến về sau.” (Thánh Gioan Kim Khẩu, De Diabolo Tentatore, Bài giảng II, 2, PG 49, 260).

[68] Quod Deus non sit auctor malorum, 8, PG 31, 345 C-D.

[69] Oratio 38, In Theophania, 10, PG 36, 320 C-321 A; Oratio45, In Sanctum Pascha, cùng nơi đó, 629 B.

[70] Xem chú thích 67 ở trên.

[71] Contra Manichaeos, 16, giải thích Ga 8,44 (in veritate non stetit) theo nghĩa này, PG 39, 1105 C; x. Enarratio in Epist. B. Iudae, chú giải câu 9, ibid., 1814 C – 1815 B.

[72] Adversus Marcionem, II, X, PL 2, 296-298.

[73] Xem đoạn tiếp theo, điều thứ nhất của các quy tắc (Canones) trong tác phẩm De Trinitate.

[74] Apologia Prophetae David, I, 4, PL 14, 1453 C-D; In Psalmum 118, 10, PL 15, 1363 D.

[75] De Genesi ad Litteram, quyển XI, XX-XXI, 27-28, PL 34, 439-440.

[76] “Nếu ai tuyên xưng rằng thiên thần phản loạn, xét theo bản tính mà nó đã được tạo thành, không phải là công trình của Thiên Chúa, nhưng tự nó hiện hữu, đến mức quy cho chính nó nguyên lý hiện hữu của mình, thì người ấy phải bị tuyệt thông.

Nếu ai tuyên xưng rằng thiên thần phản loạn đã được Thiên Chúa tạo dựng với một bản tính xấu, và không nói rằng chính nó đã tự ý lựa chọn điều ác, thì người ấy phải bị tuyệt thông.

Nếu ai tuyên xưng rằng thiên thần của Satan đã tạo dựng thế giới – điều không thể chấp nhận được – và không xác nhận rằng mọi tội lỗi đều do nó phát minh ra, thì người ấy phải bị tuyệt thông.” (De Trinitate, VI, 17, 1-3, ấn bản V. Bulhart, CCSL9, tr. 89-90; PL 62, 280-281).

[77] CSEL XXV/2, tr. 977-982; PL 42, 1153-1156.

[78] De Genesi ad Litteram Liber Imperfectus, I, 1-2, PL 34, 221.

[79] DS 188.

[80] Tức là điểm thứ sáu trong bản tường trình mà vị giám mục thành Astorga đã gửi cho Đức Giáo hoàng.

[81] “Điểm thứ sáu cho thấy họ chủ trương rằng ma quỷ chưa bao giờ là tốt lành và bản tính của nó không phải là công trình của Thiên Chúa, nhưng phát sinh từ hỗn mang và bóng tối; nghĩa là nó không có tác giả nào tạo nên mình, nhưng chính nó là nguyên lý và bản thể của mọi sự dữ. Trái lại, đức tin chân thật, tức đức tin Công giáo, tuyên xưng rằng bản thể của mọi thụ tạo, dù thiêng liêng hay vật chất, đều là tốt lành; và sự dữ không phải là một bản tính nào cả, vì Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa của toàn thể vũ trụ, đã không tạo nên điều gì không tốt lành. Vì thế chính ma quỷ cũng sẽ là tốt lành nếu nó đã ở lại trong tình trạng mà nó được tạo thành. Nhưng vì đã lạm dụng sự cao trọng tự nhiên của mình và đã không đứng vững trong chân lý (Ga 8,44), nên nó không biến đổi thành một bản thể đối nghịch, nhưng đã lìa xa Thiện Hảo Tối Cao mà nó đáng lẽ phải gắn bó…” (Epist. 15, chương VI, PL 54, 683; x. DS 286; bản văn phê bình do B. Vollmann, O.S.B., hiệu đính chỉ thêm các khác biệt về dấu câu).

[82] “Chương IX: Đức tin chân thật, tức đức tin Công giáo, tuyên xưng rằng bản thể của mọi thụ tạo, dù thiêng liêng hay vật chất, đều là tốt lành; và sự dữ không phải là một bản tính nào cả, vì Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa của toàn thể vũ trụ, đã không tạo nên điều gì mà không tốt lành. Vì thế chính ma quỷ cũng sẽ là tốt lành nếu nó đã ở lại trong tình trạng mà nó được tạo thành. Nhưng vì đã lạm dụng sự cao trọng tự nhiên của mình và không đứng vững trong chân lý, nên nó không biến đổi thành một bản thể đối nghịch, mà đã lìa xa Thiện Hảo Tối Cao mà nó đáng lẽ phải gắn bó.” (De Ecclesiasticis DogmatibusPL 58, 995 C-D). Tuy nhiên, bản văn cổ nhất của tác phẩm này, được xuất bản như phụ lục cho các tác phẩm của thánh Augustinô, không có chương này (PL 42, 1213-1222).

[83] De fide seu de regula fidei ad Petrum liber unusPL 65, 671-706. “Trước hết hãy nắm giữ điều này” (Principaliter tene): III, 25, cột 683 A. “Phải hết sức vững vàng giữ lấy…” (Firmissime… tene): IV, 45, cột 694 C. “Vì thế, một phần các thiên thần đã lìa xa Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa của mình, Đấng thiện hảo duy nhất làm cho họ được hạnh phúc, bằng một sự quay lưng hoàn toàn tự nguyện…” (III, 31, cột 687 A). “…và sự dữ không phải là một bản tính nào cả.” (XXI, 62, cột 699 D – 700 A).

[84] Concilia Gallica (314-506), CCSL 148, do Ch. Munier hiệu đính, tr. 165, dòng 25-26; cũng được tìm thấy trong phụ lục của Ordo XXXIV, trong: M. Andrieu, Ordines Romani, tập III, Louvain 1951, tr. 616.

[85] PL 215, 1512 D; A. Dondaine, Arch. Fr. Pr. 16 (1946), 232; DS 797.

[86] DS 457.

[87] Xem chú thích 44 ở trên.

[88] PL 204, 1235-1272. X. E. Delaruelle, Dictionnaire d’Histoire et de Géographie Ecclésiastiques, tập XV, cột 754-757.

[89] PL 204, 775-792. Bối cảnh lịch sử miền Bắc nước Ý thời kỳ này được trình bày rõ trong tác phẩm của cha Ilarino da Milano, Le eresie medioevali (XI-XV secolo), trong Grande Antologia Filosofica, tập IV, Milano 1954, tr. 1599-1689. Tác phẩm của Bonacursus cũng được cha Ilarino da Milano nghiên cứu trong bài Manifestatio heresis Catarorum quam fecit Bonacursus secondo il Codice Ottob. Lat. 136 della Biblioteca VaticanaAevum 12 (1938), 281-333.

[90] “Trước hết là về đức tin. Chống lại đức tin, kẻ lạc giáo đưa ra một giáo thuyết sai lầm và gian ác, khi nói rằng Thiên Chúa toàn năng chỉ tạo dựng những thực tại vô hình và phi vật chất; còn ma quỷ, mà hắn gọi là thần của bóng tối, thì tạo dựng những thực tại hữu hình và vật chất. Sau khi nói như vậy, kẻ lạc giáo còn thêm rằng có hai nguyên lý của muôn vật: một nguyên lý thiện là Thiên Chúa toàn năng, và một nguyên lý ác là ma quỷ. Hắn cũng nói có hai bản tính: một bản tính tốt lành của các hữu thể phi vật chất do Thiên Chúa toàn năng tạo dựng; và một bản tính xấu xa của các hữu thể vật chất do ma quỷ tạo dựng. Kẻ lạc giáo nói như vậy trước đây được gọi là người Manikê, còn ngày nay được gọi là người Cathar.” (Summa Contra Haereticos, chương I, do Joseph N. Garvin và James A. Corbett hiệu đính, University of Notre Dame, 1958, tr. 4).

[91] Khảo luận này, được cha Antoine Dondaine, O.P., phát hiện và xuất bản lần đầu, gần đây đã được tái bản lần thứ hai: Livre des deux principes. Introduction, texte critique, traduction, notes et index, do Christiane Thouzellier thực hiện, bộ Sources Chrétiennes 198, Paris 1973.

[92] Sách đã dẫn, đoạn 1, tr. 160-161.

[93] Sách đã dẫn, đoạn 12, tr. 190-191.

[94] “Sáng sớm, sau khi Đức Giáo hoàng cử hành Thánh lễ và tất cả các giám mục đã ngồi vào chỗ của mình, ngài tiến lên vị trí cao hơn cùng với các hồng y và các thừa tác viên. Ngài cho đọc bản tuyên xưng đức tin về Chúa Ba Ngôi và từng tín điều của đức tin. Sau khi đọc xong, người ta hỏi tất cả mọi người lớn tiếng: ‘Anh em có tin tất cả những điều này không?’ Tất cả đồng thanh đáp: ‘Chúng tôi tin.’ Sau đó, tất cả các lạc giáo bị lên án và các quan điểm của một số người bị bác bỏ, cụ thể là của Gioakim và Amaury thành Paris. Sau khi đọc các bản án ấy, người ta lại hỏi: ‘Anh em có bác bỏ các quan điểm của Gioakim và Amaury không?’ Mọi người càng mạnh mẽ đáp lại bằng việc lên án chúng: ‘Chúng tôi bác bỏ’.” (S. Kuttner và Antonio Garcia y Garcia, A New Eyewitness Account of the Fourth Lateran CouncilTraditio 20 [1964], 115-128, đặc biệt tr. 127-128).

[95] Khóa họp VI: Decretum de Iustificatione, chương V, C.Oe.D., tr. 672; DS 1525.

[96] Khóa họp XIII, chương I, C.Oe.D., tr. 693; DS 1636-1637.

[97] Khóa họp VI, chương XIII, C.Oe.D., tr. 676; DS 1541.

[98] DS 291. Công thức này sẽ được lặp lại trong Khóa họp V, điều 1 của Công đồng Trentô (C.Oe.D., tr. 666; DS 1511).

[99] Khóa họp VI, Bulla Unionis CoptorumC.Oe.D., tr. 575-576; DS 1347-1349.

[100] Khóa họp VI, chương I, C.Oe.D., tr. 671; DS 1521.

[101] Cl 1,13-14, được trích dẫn trong cùng sắc lệnh ấy, chương III, C.Oe.D., tr. 672; DS 1523.

[102] Khóa XIV: De Poenitentia (Về Bí tích Thống hối), chương I, C.Oe.D., tr. 703; DS 1668.

[103] Nghi thức này đã xuất hiện từ thế kỷ III trong Truyền thống Tông đồ (Apostolic Tradition) (ấn bản của B. Botte, chương 21, tr. 46-51), và vào thế kỷ IV trong phụng vụ của Hiến chế Tông đồ, VII, 41 (ấn bản của F.-X. Funk: Didascalia et Constitutiones Apostolorum, tập I, 1965, tr. 444-447).

[104] Ad Gentes, số 3 và 14 (xin lưu ý trích dẫn Cl 1,13 và chuỗi các trích dẫn được nêu trong chú thích 19 của số 14).

[105] Gaudium et Spes, số 37.

[106] Ep 6,11-12, được nhắc đến trong Lumen Gentium, số 48.

[107] Ep 6,12, cũng được nhắc đến trong Lumen Gentium, số 35.

[108] Lumen Gentium, số 5.

[109] X. Lc 11,20; x. Mt 12,28.

[110] C. Vagaggini, O.S.B., Il senso teologico della liturgia. Saggio di liturgia teologica generale, Rôma, 1965, phần IV, chương XIII, Le due città, la liturgia e la lotta contro satana, tr. 346-427; Egon von Petersdorff, De daemonibus in liturgia memoratisAngelicum XIX (1942), tr. 324-339; cùng tác giả,Dämonologie, I, Dämonen im Weltplan; II, Dämonen am Werk, München, 1956-1957.

[111] Xem Ordo excommunicandi et absolvendi, đặc biệt lời huấn dụ dài bắt đầu bằng câu: “Quia N. diabolo suadente…”(Bởi vì T., theo sự xúi giục của ma quỷ…), trong Pontificale Romanum, ấn bản thứ hai, Regensburg, 1908, tr. 392-398.

[112] Có thể trích một vài câu trong lời nguyện Commendo te“Ước gì con không còn biết đến bất cứ điều gì đáng kinh hãi trong bóng tối, rít gào trong lửa cháy, hay bị hành hạ trong cực hình. Ước gì Satan cực kỳ ghê tởm cùng các thuộc hạ của nó phải lùi xa khỏi con…”

[113] Điều này được quy định tại khoản 4 của Tự sắc Ministeria Quaedam: “Các tác vụ cần được duy trì trong toàn thể Giáo hội Latinh và được thích nghi với những nhu cầu hiện nay là hai tác vụ: Đọc sách và Giúp lễ. Những nhiệm vụ trước đây được giao cho phụ Phó tế nay được trao cho tác viên Đọc sách và tác viên Giúp lễ; vì thế trong Giáo hội Latinh không còn chức thánh phụ Phó tế nữa. Tuy nhiên, theo phán quyết của Hội đồng Giám mục, không có gì ngăn trở việc tác viên Giúp lễ ở một vài nơi vẫn được gọi là phụ Phó tế” (AAS 64, 1972, tr. 523). Như vậy, tác vụ trừ quỷ đã bị bãi bỏ, và không dự liệu rằng những quyền hạn gắn liền với tác vụ này sẽ được trao cho người Đọc sách hoặc người Giúp lễ thực hiện. Tự sắc chỉ đơn giản tuyên bố (tr. 531) rằng Hội đồng Giám mục có thể xin thiết lập cho địa phương mình các tác vụ giữ cửa, trừ quỷ và giáo lý viên.

[114] Việc chuyển sang hình thức lời nguyện khẩn cầu chỉ được thực hiện sau một thời gian “thử nghiệm”, tiếp theo là quá trình suy tư và thảo luận trong Consilium (Ủy ban Cải tổ Phụng vụ).

[115] Ordo Initiationis Christianae Adultorum, ấn bản mẫu, Rôma, 1972, các số 101, 109-118, tr. 36-41.

[116] Sđd., số 25, tr. 13; và các số 154-157, tr. 54.

[117] Điều này đã có ngay từ ấn bản đầu tiên: Ordo Baptismi Parvulorum , ấn bản mẫu, Rôma, 1969, tr. 27, số 49; và tr. 85, số 221. Điểm đổi mới duy nhất là nghi thức trừ quỷ này mang hình thức một lời nguyện khẩn cầu, và ngay sau đó là việc xức dầu dự tòng (sđd., số 50). Tuy nhiên, hai nghi thức – trừ quỷ và xức dầu – mỗi nghi thức đều có phần kết thúc riêng.

[118] Trong Ordo Paenitentiae mới, ấn bản mẫu, Rôma, 1974, xin lưu ý lời nguyện Deus humani generis benignissime conditor, trong Phụ lục II (tr. 85-86): ngoài một vài điều chỉnh nhỏ, lời nguyện này giống hệt lời nguyện cùng mở đầu xuất hiện trong Ordo Reconciliationis Poenitentium vào Thứ Năm Tuần Thánh (Pontificale Romanum, Regensburg, 1908, tr. 350).

[119] Ordo Unctionis Infirmorum eorumque Pastoralis Curae, ấn bản mẫu, Rôma, 1972, tr. 33, số 73.

[120] Sđd., tr. 34, số 75.

[121] “Xin cứu chúng con cho khỏi sự dữ”: bài huấn từ trong Buổi Tiếp kiến chung ngày 15.11.1972 (L’Osservatore Romano, ấn bản tiếng Anh, ngày 23.11.1972, tr. 3). Đức Thánh Cha cũng bày tỏ mối quan tâm tương tự trong bài giảng ngày 29 tháng 6 cùng năm: “Hãy vững mạnh trong đức tin” (L’Osservatore Romano, ấn bản tiếng Anh, ngày 13.7.972, tr. 6-7).

[122] De Diabolo Tentatore, Bài giảng II, PG 49, 259.

[123] 1 Pr 5,8.

[124] Đức Giáo hoàng Phaolô VI, ibid..